Nghệ gồm có nghệ vàng và nghệ đen. Tùy từng trường hợp mà chúng ta dùng riêng nghệ đen hay nghệ vàng, hay dùng phối hợp với nhau để tăng tác dụng chữa bệnh. Củ nghệ vàng còn có tên gọi khương hoàng. Theo y học cổ truyền, nghệ vàng có vị cay đắng, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, làm tan máu và giảm đau, chủ trị bụng chướng đầy, cánh tay đau, bế kinh sau sinh nở, bụng ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung thũng, trị mụt nhọt, sưng, thông kinh nguyệt...

 Công dụng của nghệ - ảnh 1
Củ nghệ có thể giúp trị chứng đầy bụng, khó tiêu - Ảnh: K.Vy 

Còn nghệ đen gọi là nghệ xanh, nghệ tím, Đông y gọi là nga truật. Về hình dạng, nghệ đen rất giống nghệ vàng, chỉ khác là lá nghệ đen có màu tím đậm ở gân chính, còn lá nghệ vàng thì xanh. Để làm thuốc, người ta đào lấy củ rồi cắt bỏ rễ con, rửa sạch, thái lát, phơi khô, khi dùng thì tẩm giấm sao vàng. Củ có chứa nhiều tinh dầu.

Nghệ đen có vị đắng, cay, mùi thơm và hăng, có tính ấm, tác dụng hành khí, thông huyết, tiêu thực, mạnh tỳ vị, kích thích tiêu hóa, tiêu viêm, tiêu xơ. Nghệ đen thường được dùng để chữa các trường hợp: đau bụng kinh, bế kinh, kinh không đều, ăn không tiêu, đầy bụng, nôn mửa nước chua, chữa các vết thâm tím trên da. Tuy nhiên, vì nó có tác dụng hoạt huyết phá ứ rất mạnh nên nghệ đen không được dùng cho phụ nữ có thai và những người hay bị rong kinh.

Lương y Quốc Trung

Bình luận

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết