Việc lên đường tìm kiếm mộ Hồ Quý Ly (cùng những người trong gia tộc họ Hồ bị quân Minh bắt về Trung Quốc) không chỉ là công việc của riêng các nhà hoạt động văn hóa, khảo cổ, mà còn là ước nguyện của bà con các tông phái họ Hồ sinh sống khắp Việt Nam...

Cái chết của Hồ Quý Ly sau khi bị giam tại Nam Kinh ra sao đến nay chưa ai dám khẳng định rõ ràng. Sử nhà Minh và một số tài liệu tìm được tại các thư viện ở Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Tây thì vẫn ghi chép chung chung, chứ không thông tin minh bạch về ngày giờ, năm tháng cũng như những chi tiết về phút lâm chung, nhất là mộ táng Hồ Quý Ly nằm ở nơi nào. Chúng tôi đem điều đó ra hỏi một số nhà nghiên cứu chuyên ngành sử học, văn học, và tình cờ trong một buổi chiều đầu thu năm nay - Canh Dần 2010 - chúng tôi được tiếp chuyện với một nhà chiêm tinh học, đồng thời là nhà nghiên cứu gia phả học (xin viết tắt tên vị ấy là H.T), để nghe ông nói về lá số tử vi của Hồ Quý Ly với đôi điều là lạ ghi dưới đây:

Sau khi lên ngôi năm 1400, Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Tây Đô: “Cũng từ đây, Hồ Quý Ly điều hành đất nước, đưa ra những chương trình cải cách của mình. Khi cuộc kháng Minh của nhà Hồ thất bại, quân Minh vào chiếm... đổi tên thành phủ Thanh Hóa. Đến sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh, lên ngôi vua, đóng đô tại Đông Kinh (Thăng Long), thành Thanh Hóa được trở lại tên cũ là Tây Đô (...) Đến đời vua Minh Mạng, thành được đổi tên là Tây Giai. Còn tên “thành nhà Hồ” mới xuất hiện sau này, từ khi triều đại nhà Hồ được xem là triều đại chính thống trong lịch sử nước ta”.

(Hỏi đáp lịch sử Việt Nam - Nhóm Nhân Văn trẻ xuất bản, tập 2, NXB Trẻ 2006; Trần Nam Tiến chủ biên)

- Này nhà báo, theo sử liệu để lại, thì Hồ Quý Ly sinh năm Bính Tý, tức năm 1336. Có tài liệu chép sinh trước đó một năm, vào 1335. Ở đây tôi chọn năm Bính Tý 1336 để đi ngược thời gian thử chấm lá số tử vi cho vua Hồ Quý Ly xem sao. Làm việc này thoạt đầu xem ra có vẻ hơi kỳ, vì mọi chuyện trong đời của ông vua đầu triều Hồ này ai cũng biết rồi, còn “chấm” làm chi nữa. Song thật ra, đứng về mặt nghiên cứu chiêm tinh học và trường sinh học - vốn đang được các nhà khoa học hiện đại quan tâm - thì tất cả những người đã chết, đang sống, đều có thể tìm hiểu lá số của họ để biết điều đúng, điều sai từ các kết luận so với thực tế xảy ra. Vì thế, chúng tôi đã tìm hiểu Hồ Quý Ly ở khía cạnh văn hóa tâm linh để “chấm” số và so sánh với những diễn biến trong đời ông.

Chúng tôi xin phép được ghi lại đôi dòng “bên lề lịch sử” qua cuộc tiếp xúc ấy. Bấy giờ nhà chiêm tinh vui vẻ đồng ý, song không giải thích rõ, mà đọc mấy câu cho chúng tôi chép liên quan đến lá số của vua Hồ Quý Ly: Sống nhung lụa, chết tha hương. Mộ phần hai đóa m - Dương hai màu. Bên tả hình mèo tháng Mão. Bên hữu, hình ngựa chiêm bao Ngọ về... Rồi không nói chi thêm, nhà chiêm tinh hớp cạn ly trà, đứng dậy cáo từ đi mất.

Về nhà, chúng tôi ngẫm nghĩ mấy chữ mở đầu của các câu trên là: “Sống nhung lụa”, thì ai cũng biết Hồ Quý Ly xuất thân từ cửa quý tộc, ông có hai người cô ruột được vua Trần Minh Tông tuyển vào cung, một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông, người kia sinh vua Trần Duệ Tông. Riêng Hồ Quý Ly được vua Trần Nghệ Tông gả em gái là công chúa Huy Ninh cho. Với những mối quan hệ đậm đà ấy, ông được vua Nghệ Tông tin dùng từ năm 1371, lúc 35 tuổi, phong cho làm Khu mật đại sứ, lại gia tước Trung tuyên hầu. Đến năm 1372, khi Nghệ Tông truyền ngôi lại cho em là vua Duệ Tông, Duệ Tông đã lập em họ của Hồ Quý Ly là Lê thị làm hoàng hậu.

Theo đà ấy, Hồ Quý Ly bước vào chính trường với tư thế là một trong những người có trọng trách của cơ quan tối cao nhà Trần, trở thành một trong các quý tộc ngoại thích có ảnh hưởng mạnh nhất đối với vua Trần, đã dần dần tập trung quyền hành để lên ngôi vào năm Canh Thìn 1400. Trước đó, nhà Minh đã lộ rõ nhiều dấu hiệu muốn gấp gáp thôn tính nước ta nên Hồ Quý Ly đã lệnh cho xây thành Tây Đô ở Thanh Hóa, mà sau này, khi nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật đi tìm mộ Hồ Quý Ly và đặt chân đến Lão Hổ Sơn đã sực nhớ đến thành Tây Đô ấy. Chúng tôi hỏi: “Vì sao trên đường sang Trung Quốc tìm mộ Hồ Quý Ly ông lại nhớ đến thành nhà Hồ, tức thành Tây Đô (còn gọi Tây Giai) ở Thanh Hóa, Việt Nam?”.

Ông đáp: “Sao lại không nhớ được. Tôi đã liên tưởng ngay thành nhà Hồ khi vừa đến các bãi tha ma đầy mộ vô chủ trên ngọn Lão Hổ Sơn. Là vì cái chết tha phương trên đất Trung Quốc của Hồ Quý Ly có liên hệ nhân quả rất chặt chẽ với những chuỗi hoạt động của đời ông, mà một trong những việc làm quan trọng của ông là quyết định xây thành Tây Đô để ứng phó kịp thời với việc nhà Minh xua quân xâm lăng. Hẳn nhiên nhà Minh không thể để một bộ óc chiến lược như Hồ Quý Ly được sống sót dài ngày để tiếp tục suy tính chống lại họ. Rõ ràng cái chết chưa biết rõ ngày tháng lẫn nơi chôn của Hồ Quý Ly có duyên do rất sâu từ những hoạt động quân sự như xây thành đắp lũy để chống giặc của ông.

Nói tới đó, ông Đỗ Đình Truật giở bản thảo cuốn hồi ức về hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly để chỉ chúng tôi xem đoạn ông viết về việc thám sát thành nhà Hồ do Hồ Quý Ly ra lệnh xây như sau: “Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt vào giai đoạn 1965 - 1967, đoàn điều tra khảo cổ học của chúng tôi vẫn đến Thanh Hóa, gần cầu Hàm Rồng, để bước đầu nghiên cứu thành nhà Hồ, bởi lẽ theo nhận định của nhà nước lúc bấy giờ, thành nhà Hồ là một di tích quân sự, di tích lịch sử, nói lên ý chí bảo vệ đất nước và chống ngoại xâm.

Đầu tiên khi đến đó, chúng tôi đặt vấn đề tại sao Hồ Quý Ly lại chọn vùng núi non của động An Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa để xây căn cứ chống quân Minh, và rồi chúng tôi có ngay câu trả lời khi tận mắt nhìn thấy địa thế hiểm yếu của vùng này, với bốn bề núi non bao bọc, mở ra mặt nam và đông nam rộng thoáng mà thôi, lại có dòng sông Mã, sông Chu hợp lưu nữa, thuận cho việc hoạt động của thủy binh.

Cung đất mà Hồ Quý Ly chọn xây thành Tây Giai là cung Chấn - nghĩa là cung mạnh và phát địa nhất, cách thủ đô Thăng Long 150 km đường chim bay, và cách quốc lộ xuyên Đông Dương ngày nay khoảng 30 km, cách biển độ 40 km. Cuối đời, khi thế trận thất lợi, Hồ Quý Ly đã chạy về hướng đó, lên núi Thiên Cầm thuộc Kỳ La ở Hà Tĩnh cách thành Tây Đô không xa, rồi cũng tại đó, Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, dẫn khỏi miền Trung để vĩnh viễn đày xa đất Việt...”. (Còn tiếp

Giao Hưởng

Bình luận