'Dinh dưỡng hợp lý bảo vệ sức khỏe'

0
Dinh dưỡng cho sức khỏe và phòng bệnh đang là vấn đề mà mỗi người, mỗi gia đình quan tâm bởi nó tác động trực tiếp đến chất lượng sống.
Đại diện Báo Thanh Niên tặng hoa cảm ơn khách mời tham gia giao lưu trực tuyến /// Ảnh Ngọc Thắng Đại diện Báo Thanh Niên tặng hoa cảm ơn khách mời tham gia giao lưu trực tuyến - Ảnh Ngọc Thắng
Đại diện Báo Thanh Niên tặng hoa cảm ơn khách mời tham gia giao lưu trực tuyến
Ảnh Ngọc Thắng
Để chia sẻ những thông tin hữu ích giúp bạn đọc có thêm những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khỏe, Báo Thanh Niên phối hợp cùng Bộ Y tế tổ chức chương trình giao lưu trực tuyến “Dinh dưỡng hợp lý bảo vệ sức khỏe”.
Giao lưu trực tuyến: 'Dinh dưỡng hợp lý bảo vệ sức khỏe' - ảnh 1
Trong chương trình này các chuyên gia dinh dưỡng sẽ tư vấn về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, dinh dưỡng cho lứa tuổi học đường, bổ sung vi chất từ thực phẩm... Cùng với đó là các vấn đề về: Dinh dưỡng cải thiện chất lượng dân số (phòng các bệnh béo phì, can thiệp dinh dưỡng giúp cải thiện chiều cao, thể lực cũng như giúp phòng các bệnh không lây như: béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp...).
Chương trình sẽ diễn ra vào lúc 14 giờ ngày 9.11 với sự tham dự của bác sĩ dinh dưỡng lâm sàng đến từ các cơ sở điều trị và bác sĩ của Viện Dinh dưỡng.
Mời bạn đọc quan tâm đến chương trình, xin vui lòng đặt câu hỏi tại box bên cạnh.

giao lưu trực tuyến

Mai Lan

Điện Biên
Xin chào bác sĩ! Cho tôi hỏi, con trai tôi bị béo phì, xin bác sĩ tư vấn cách ăn uống đủ dinh dưỡng mà không bị tăng cân. Bé năm nay 8 tuổi, nặng 53 kg, gia đình tôi lo ngại bé sẽ bị các bệnh do béo phì gây nên. Xin cảm ơn!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Chào bạn! Với trường hợp như của cháu là béo phì rồi, bạn cần cho con đi khám chuyên khoa dinh dưỡng để được tư vấn cụ thể. 
Cháu nên được làm các xét nghiệm để xác định có hay không tình trạng rối loạn chuyển hóa. 

Bích Ngọc

TP.HCM
Xin chào khách mời! Tôi 59 tuổi, bị đái tháo đường dùng thuốc đã 7 năm, thực hiện kiêng, giảm ăn ngọt và tinh bột, tuy nhiên, thỉnh thoảng đường huyết lại bị tụt, mệt xỉu: choáng, vã mồ hôi, run chân tay. Xin chuyên gia cho lời khuyên để khắc phục tình trạng này.

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Chào bác! Đường huyết giảm là một triệu chứng rất nguy hiểm. Vì vậy, chế độ ăn bác cần chú ý: vẫn ăn đủ năng lượng chứ không nên kiêng quá mức, khi ăn không đủ năng lượng sẽ bị sụt cân, suy dinh dưỡng cũng nguy hiểm.
Trong chế độ ăn nên chia nhỏ bữa ăn để đường huyết không bị tăng nhiều sau ăn, và cũng không bị giảm đường huyết do bữa ăn quá cách xa. 
Cần dùng thuốc kết hợp chế độ ăn theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. Nếu hay bị hạ đường huyết thì nên mang theo viên kẹo, đường viên nhỏ... khi hạ đường huyết sẽ pha uống luôn tránh biến chứng nguy hiểm.
Nếu hạ đường huyết nặng có thể gây hôn mê nguy hiểm đến tính mạng.

Bích Nguyệt

Thái Nguyên
Xin chào khách mời! Tôi có người nhà năm nay 51 tuổi, suy thận mãn độ hai và có bị cao huyết áp. Xin bác sĩ cho lời khuyên về chế độ ăn như thế nào để tránh cho bệnh thận nặng hơn? Cảm ơn bác sĩ!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Người bệnh suy thận mãn độ hai có tăng huyết áp cần kiểm soát tốt huyết áp và chế độ ăn cho bệnh nhân suy thận cần lưu ý: đảm bảo đủ năng lượng, giảm đạm, giảm muối trong chế độ ăn. Nếu không đủ năng lượng có thể gây giảm khối cơ làm tăng mức độ suy thận.
Lượng đạm cần lưu ý theo mức cân nặng mỗi người. Ví dụ, người cân nặng 60 kg thì sẽ ăn khoảng 48 gram protein, mà trong 1 lạng thịt nạc có khoảng từ 18 - 20 gram protein. Lưu ý, đạm còn có trong các thức ăn như đậu đỗ, gạo, rau nhiều đạm như ( muống, ngót, dền). Đạm thực vật cần hạn chế với bệnh nhân suy thận.

Minh Hạnh

TP Hồ Chí Minh
Sản phẩm sữa bột và sữa tươi dinh dưỡng như nhau không? Bé không ăn rau sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia
Sữa tươi là sữa còn nguyên giá trị dinh dưỡng của sữa động vật.
Sữa bột là sữa đã qua xử lý và có thể bổ sung thêm nhiều các thành phần khác. Sữa bột có thể là sữa tươi đông khô hoặc bổ sung thêm các thành phần khác. Khi sữa bột là sữa tươi đông khô thì khi hoàn nguyên giá trị dinh dưỡng tương đương sữa tươi nếu hoàn nguyên đúng cách.
Nếu sữa bột bổ sung thêm các thành phần khác thì tùy theo thành phần và hàm lượng chất bổ sung mà dinh dưỡng có sự khác biệt với sữa tươi khác nhau. Có thể cao năng lượng hoặc thấp năng lượng hơn sữa tươi nguyên chất.
Không ăn rau là một thói quen không tốt cho sức khỏe của trẻ. Rau cung cấp lượng lớn chất xơ, muối khoáng, đồng thời các loại rau còn là nguồn kháng sinh thực vật giúp tăng đề kháng cho sức khỏe của bạn, các loại trái cây khi chín có màu hồng, đỏ, cam có hàm lượng Beta Caroten cao và giàu sắt, có khả năng phòng bệnh thiếu vitamin A, chống oxy hóa và ung thư.
Nếu trẻ không ăn rau thì sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ. Do không ăn rau, cơ thể bị thiếu các loại vitamin và khoáng chất cần thiết, sức đề kháng sẽ giảm, trẻ hay bị ốm (bệnh); khẩu phần ăn bị thiếu chất xơ, lượng phân ít đi làm cho trẻ hay bị táo bón; vitamin C có trong rau, quả sẽ giúp cơ thể trẻ hấp thu sắt tốt hơn.
Rất nhiều chu trình chuyển hóa các chất trong cơ thể cần có các chất xúc tác sinh học có trong rau, củ, quả, vì thế nếu trẻ không ăn rau, quá trình tiêu hóa hấp thu, chuyển hóa các chất đều bị ảnh hưởng. Trẻ có thói quen ăn thịt và các thức ăn giàu béo mà không có thói quen ăn rau cũng là nguy cơ rất cao bị thừa cân béo phì.
Các bậc cha mẹ cần kiên nhẫn và khéo léo để điều chỉnh cho trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh, đa dạng các loại thực phẩm, giúp trẻ có được sức khỏe tốt, phát triển toàn diện. 

Lam Quỳnh

Hoà Bình
Đối với các bé gầy - so với chuẩn trung bình, có nhất thiết phải bắt bé uống sữa không? Bé trai nhà tôi 8 tuổi, nặng 24 kg có được xem là suy dinh dưỡng không vì bé khá nhỏ con so với các bạn cùng lớp? Tuy nhiên, bé không thích uống sữa, không thích ăn nhiều đồ ăn nhiều đạm. Bé cũng dễ bị bệnh khi thời tiết thay đổi hoặc cơ thể hay mệt mỏi. Xin bác sĩ cho xin lời khuyên?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Nếu có ngày/tháng/năm sinh và chiều cao của bé nữa thì mới tính được chính xác tình trạng dinh dưỡng của bé (theo chỉ số chiều cao theo tuổi, hoặc cân nặng theo chiều cao…).

Bé trai nhà bạn nếu chính xác là tròn 8 tuổi, thì theo thang phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (2006), cân nặng nằm trong khoảng 19,5 - 34,7 kg là trong ngưỡng bình thường (mức trung bình là 25,4 kg).

Về chế độ dinh dưỡng cho bé, nếu bé không thích uống sữa, có thể thay thế bằng các chế phẩm của sữa như sữa chua, pho mai.

Trong trường hợp bé không ăn các loại sữa và chế phẩm, có thể bổ sung cho bé các thức ăn giàu canxi như tôm, tép nhỏ ăn cả vỏ, cá nhỏ cả xương, cua đồng hoặc bổ sung các thực phẩm được bổ sung thêm canxi để đảm bảo nhu cầu canxi cho tuổi đang tăng trưởng của trẻ.

Thu Hải

Nam Định
Chào bác sĩ! Tôi có thừa cân trước khi mang thai (cao 1,56 m, nặng 60 kg), hiện đang mang thai tuần thứ 12. Vậy, cần lưu ý ăn thức ăn nào để đảm bảo cho em bé vì tôi nghe nói mẹ béo dễ gây bệnh cho con? Và tôi có cần phải tăng cân thêm như thế nào trong quá trình mang thai? Xin cảm ơn bác sĩ!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Chào bạn! Mẹ thừa cân trước khi mang thai thì trong quá trình mang thai dễ có nguy cơ bị mắc đái đường thai kỳ. Vì thế, trong quá trình mang thai, cần khám thai định kỳ để được bác sĩ tư vấn.
Bạn vẫn cần tăng cân trong quá trình mang thai nhưng phải tăng hợp lý, cân nặng nên tăng khoảng 9 kg đến cuối thai kỳ. Chế độ ăn vẫn cần cân đối và đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin và khoáng chất, để em bé phát triển khỏe mạnh. 

Hà Thi

Hà Nội
Hiện nay, tình trạng an toàn thực phẩm đang rất báo động. Tôi không dám mua đồ ăn ở các chợ vì sợ không an toàn. Tuy nhiên, về các thực phẩm được quảng cáo là an toàn trong siêu thị, người tiêu dùng cũng không thấy có chuẩn và hiểu biết chính xác để xác định và tin tưởng đó có chắc chắn là thực phẩm an toàn không. Việc ăn uống, hay nói các khác là thực dưỡng, chiếm phần chủ chốt trong phòng và chữa bệnh. Vậy, theo bác sĩ, nên lựa chọn nguồn thực phẩm như thế nào và chế độ ăn ra sao để người dân có thể yên tâm hạn chế bệnh tật?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Khi mua thực phẩm, bạn phải chú ý đến nguồn, xuất xứ, có địa chỉ xuất xứ và thông tin rõ ràng về sản phẩm. Thực phẩm đóng hộp thì phải quan tâm đến thông tin về thành phần, hạn sử dụng…

Sau đây là hướng dẫn cách lựa chọn thực phẩm an toàn:

- Nhóm ngũ cốc nguyên hạt (các loại như gạo tẻ, gạo nếp, đậu xanh, đậu đen và nhóm hạt cung cấp chất béo như lạc, vừng…): Nên chọn hạt khô, không bị ẩm mốc, không bị mọc mầm, các hạt đều nhau, không có các loại mọt, sạn, hay tạp chất khác; màu sắc tự nhiên không bị biến đổi; nếu cắn thử thấy hạt giòn, không vỡ vụn; ngửi mùi thì vẫn có mùi thơm đặc trưng của loại hạt đó mà không có các mùi lạ.

- Nhóm thịt lợn: Thịt tươi có lớp màng khô, có màu đỏ tươi, bề mặt hơi se lại. Mặt cắt miếng thịt có màu hồng sáng, da trắng hồng, mềm mại. Phần mỡ có màu sáng, chắc, có mùi thơm đặc trưng. Bề mặt thịt và mỡ không có các đám xuất huyết tụ lại, không có các nốt sần. Phần khớp xương láng và trong. Tủy xương bám chặt vào thành ống và trong suốt.

Lấy ngón tay ấn vào thịt rồi buông ra thì thấy không để lại dấu tay, thớ thịt đàn hồi nhanh và có màu đỏ hồng.

- Nhóm thịt gà và các loại gia cầm: Gà, vịt sống nên chọn con khỏe mạnh, mào đỏ tươi, hai cánh ép sát mình, lông trơn mượt, mắt có thần.

Khi mua gà, vịt đã làm lông, cắt tiết, phải chọn con nào da còn trơn nhờn, thịt không có mùi khác lạ, mặt ngoài của thịt hơi khô ráo, không có cảm giác dính, dùng ngón tay đè mạnh xuống mà thịt lập tức đàn hồi trở lại.

Nhóm cá, hải sản: Với cá, nên chọn những con cá có mắt sáng nhanh, chạm vào là bơi ngay, quẫy mạnh không lù đù. Cá còn tươi thì vảy cá phải xếp đều, trắng, không bong tróc, không có các dấu hiệu bất thường. Mang cá khép chặt nếu lấy tay nâng mang cá lên xem sẽ thấy mang cá màu hồng tươi mà không phải màu tía, mắt cá to, sáng trong, hơi lồi ra ngoài. Chất nhờn trên thân cá phải trong, nhớt và không có mùi lạ.

Đối với hải sản nên mua khi chúng còn sống.

- Nhóm rau, củ, quả: Rau, quả tươi khi quan sát thấy còn nguyên cuống, không dập nát, không có những đốm màu khác lạ trên bề mặt. Màu sắc tự nhiên đặc trưng của từng loại rau, củ, quả. Không có mùi lạ.

Thận trọng với những loại rau, củ, quả có hình dáng, màu sắc bất thường (ví dụ kích thước quá to, chín quá vàng, quá đẹp, bắt mắt, lá quá xanh hoặc to bất thường…) vì có thể bị sử dụng chất kích thích độc hại.

Cách bảo quản rau tốt nhất là để ở ngăn tủ mát. Rau nên nhặt sạch, rửa dưới vòi nước nhiều lần, để ráo và cho vào túi ni lông buộc chặt để ăn dần.

- Nhóm thực phẩm chế biến sẵn: Sản phẩm có địa chỉ xuất xứ rõ ràng; còn thời hạn sử dụng, không bị phồng, méo (đồ hộp), không sử dụng các phẩm màu độc hại, được bao gói an toàn. Đọc kỹ thông tin về thành phần và thông tin dinh dưỡng in trên vỏ hộp hoặc bao gói trước khi quyết định mua. 

Để tăng cường sức khỏe, hạn chế bệnh tật, chúng ta cần có một chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý, duy trì một lối sống năng động lành mạnh. Cụ thể:
- Cách chế biến: Hợp khẩu vị, ăn ngon miệng, thường xuyên thay đổi món.
- Đáp ứng cả về số lượng và chất lượng, giàu vi chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phân bố thời gian và năng lượng hợp lý giữa các bữa ăn trong ngày.
- Phối hợp nhiều loại thực phẩm: Phối hợp nguồn đạm động vật và thực vật; chất béo động vật và dầu thực vật. Bữa ăn nên có >15 loại thực phẩm.
- Tăng cường khẩu phần rau; hạn chế sử dụng thực phẩm đóng gói và chế biến sẵn (như: xúc xích, lạp sườn, giò, chả lụa, mì tôm). Hạn chế sử dụng các loại nước ngọt có ga...
- Hạn chế đường và muối: Không nên ăn mặn. Nên sử dụng muối i ốt trong chế biến thức ăn. Lựa chọn bữa ăn phụ hợp lý (ví dụ: chọn loại sữa tươi ít đường thay vì sữa có đường, hoặc hoa quả sẵn có của địa phương).
- Bảo đảm VSATTP: Nguồn thực phẩm an toàn, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Rửa tay trước và sau khi chế biến thức ăn.
- Uống đủ nước chín hàng ngày. Duy trì lối sống tích cực, năng động, hoạt động thể lực thường xuyên, hợp lý. 

Đức Hòa

Đồng Nai
Xin chào bác sĩ! Xin bác sĩ cho biết, loại hoa quả, rau xanh nào người mắc đái tháo đường cần tránh ăn? Có nhất thiết kiêng tuyệt đối quả ngọt như xoài chín, nhãn, dưa hấu không? Trân trọng cảm ơn!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Xin chào bạn! Người đái tháo đường nếu không mắc bệnh lý kèm theo thì có thể ăn đa dạng các loại rau.
Với các loại quả ngọt như xoài chín, na, nhãn... cần hạn chế dùng, không cần kiêng tuyệt đối, có thể ăn nhưng lượng ít. Ví dụ, nhãn có thể ăn 10 quả nhỏ/lần, nhưng với điều kiện đường huyết được kiểm soát tốt; hoặc dưa hấu có thể ăn 2 miếng nhỏ (tổng số tương đương khoảng 200 - 250 gram/ngày); đu đủ chín có thể ăn 150 - 200 gram/ngày.
Không nên dùng các loại quả ngọt sấy khô và các bánh kẹo ngọt.

Thu Hải

Bến Tre
Xin chào khách mời của Báo Thanh Niên. Mẹ tôi 67 tuổi, bị tai biến mạch não nhẹ, đã ra viện, tay trái hơi yếu, hiện nay đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp. Xin bác sĩ cho biết, chế độ ăn như thế nào để giúp được dự phòng tai biến lần sau? Nên ăn loại trái cây hay rau nào để giảm mỡ máu, vì mẹ tôi bị mỡ máu xấu cao. Cảm ơn bác sĩ!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Chào bạn! Với trường hợp mẹ của bạn, có huyết áp cao, từng tai biến mạch máu não, cần kiểm soát tốt huyết áp, do đó ngoài việc ăn uống đầy đủ, cần giảm lượng muối trong chế độ ăn.
Không ăn những thực phẩm nhiều muối như dưa, cà muối, giò, chả, thịt xông khói. Hàng ngày nên chế biến thức ăn dưới dạng luộc. Lượng muối không nên quá 5 gram/ngày. Ví dụ, 1 thìa cà phê nước mắm tương đương 1 gram muối. 
Các loại rau cần ăn đa dạng, đặc biệt rau lá (muống, ngót, dền...) có chứa nhiều kali. Quả cũng nên ăn đa dạng như chuối, cam, bưởi,... vì chế độ ăn của người tăng huyết áp nên tăng kali và giảm muối. Người rối loạn mỡ máu cần ăn đủ lượng rau trong ngày để có nhiều chất xơ giúp giảm cholesterol.

Bạn đọc của báo Thanh Niên

Thưa chuyên gia, tôi bị bệnh gout 5 - 6 năm, các ngón chân đau, sưng, một số ngón chân có gồ lên, vậy chế độ ăn cần lưu ý gì để bệnh thuyên giảm? Xin cảm ơn!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Về chế độ ăn cho bệnh nhân gout, cần chú ý tránh thực phẩm có nhiều nhân purin có nhiều trong nước luộc thịt, phủ tạng động vật (óc, gan, bầu dục); không uống rượu và bia, vì đồ uống này có nhiều nhân purin gây đợt gout cấp; một số loại nấm, măng tây, đậu đỗ...
Các thực phẩm giàu đạm đều phải hạn chế, nhưng không kiêng hoàn toàn. Ví dụ, một bệnh nhân cân nặng 60 kg, thì các thức ăn giàu đạm như thịt (bò, gà, lợn), cá, tôm 1 ngày nên ăn 150 g. Với thịt luộc thì nên bỏ nước. 

Nguyễn Thị Kim Dung

TP.HCM
Xin bác sĩ cho hỏi:
1. Học sinh tiểu học cần phải uống mỗi ngày bao nhiêu sữa tươi, hoặc sữa tuyệt trùng là đủ?
2. Nên dùng sữa tươi hay sữa tuyệt trùng cho lứa tuổi từ tiểu học đến trung học phổ thông?
3. Khi trẻ đã bị dư cân thì có nên cho uống sữa hay là ngưng uống?
Xin cảm ơn!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Theo khuyến cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia (Tháp dinh dưỡng dành cho trẻ 6 - 11 tuổi) thì mỗi ngày, trẻ cần tiêu thụ 4 - 6 đơn vị sữa và chế phẩm từ sữa (1 đơn vị tương đương với 1 miếng phomai 15 gram; hoặc 100 ml sữa dạng lỏng, hoặc 1 hộp sữa chua 100 gram). Như vậy, trẻ lứa tuổi này nên tiêu thụ khoảng 500 ml sữa và chế phẩm sữa trong 1 ngày.

Tùy theo điều kiện sử dụng mà bạn có thể sử dụng sữa tươi tiệt trùng hay sữa tươi thanh trùng (ví dụ, tiêu thụ ngay, hoặc phải để bảo quản lâu, giá thành…). Nếu được bảo quản đúng cách thì lứa tuổi này dùng sữa tươi thanh trùng tốt hơn sữa tiệt trùng. Bạn có thể tham khảo thông tin sau đây để hiểu đúng về các loại sữa này:

 - Sữa tươi tiệt trùng và sữa tươi thanh trùng cùng có bản chất là sữa tươi, nhưng có quá trình xử lý nhiệt khác nhau.

- Sữa tiệt trùng tên chính xác là sữa hoàn nguyên tiệt trùng, bản chất là sữa bột pha với nước và cũng được qua quá trình xử lý nhiệt trước khi đóng vào bao bì.

Chất lượng dinh dưỡng:

- Vitamin tự nhiên trong sữa tươi thanh trùng cao hơn so với sữa tiệt trùng, đồng thời lớp váng sữa tự nhiên trong sữa tươi thanh trùng có nhiều khoáng chất (Ca, Na, Ka,…), protein, canxi, vitamin A, E, B1, B2, C, PP,…  Tỷ lệ vitamin của sữa tươi thanh trùng bị mất mát trong quá trình xử ý nhiệt rất ít, còn sữa tươi tiệt trùng, vitamin bị mất nhiều hơn nhưng không đáng kể.

- Sữa tiệt trùng qua 2 lần xử lý nhiệt nên lượng vitamin và hương vị thay đổi khá nhiều. Vitamin tự nhiên trong sữa thấp hơn sữa thanh trùng đồn thời có thể bổ sung thêm các dưỡng chất khác như DHA, Selen,…

Cách bảo quản:

- Sữa tươi tiệt trùng có thể bảo quản ở nhiệt độ thường, hạn sử dụng từ 6 tháng đến 1 năm.

- Sữa tươi thanh trùng phải luôn luôn bảo quản lạnh cả trong quá trình vận chuyển, bán hàng cho đến khi tới tay người tiêu dùng, sữa chỉ dùng được khoảng tư 7 - 10 ngày nếu được bảo quản tốt.

Khi trẻ thừa cân vẫn cần phải bổ sung sữa để đảm bảo nhu cầu canxi cho cơ thể nhưng trẻ nên dung sữa tách béo không đường có năng lượng thấp dưới hoặc bằng 50 Kcal/100 ml, phối hợp với chế độ ăn giảm béo và bột đường tránh tăng cân.

Kim Oanh

Hòa Bình
Chào bác sĩ dinh dưỡng! Em chuẩn bị sinh con lần hai. Do lần đầu không có kinh nghiệm nên cháu bé bị suy dinh dưỡng nhẹ. Vậy, xin bác sĩ cho biết, can thiệp dinh dưỡng thời điểm nào giúp cải thiện dinh dưỡng cho trẻ nhỏ?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Giai đoạn nào cũng cần phải chú ý đề phòng suy dinh dưỡng cho trẻ. Tuy nhiên, quan trọng nhất là giai đoạn 1.000 ngày đầu đời - còn được gọi là 1.000 ngày vàng - của trẻ (1.000 ngày vàng được tính từ khi bà mẹ bắt đầu mang thai cháu cho đến khi cháu được tròn 2 tuổi). Đầu tư vào dinh dưỡng cho bé trong giai đoạn này chính là sự đầu tư tốt nhất cho sự phát triển cả đời của bé.

Chăm sóc dinh dưỡng trong 1.000 ngày vàng này được chia làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc thù riêng:

Giai đoạn mang thai (280 ngày): Trong thời gian mang thai, bạn cần nguồn dinh dưỡng hợp lý cho sức khỏe của chính bạn và bé. Bạn cần được chăm sóc dinh dưỡng hợp lý: ăn thêm ít nhất một bữa mỗi ngày; uống bổ sung viên sắt và axit folic, hoặc viên đa vi chất hàng ngày; ăn thức ăn giàu vi chất dinh dưỡng: thịt có màu đỏ, cá, trứng, ngũ cốc và rau xanh để tăng cường chất sắt, ngăn ngừa thiếu máu. Bà mẹ cần được lao động và nghỉ ngơi hợp lý, được thăm khám thai theo định kỳ và được tiêm phòng đầy đủ.

Giai đoạn từ khi sinh đến 6 tháng tuổi (180 ngày): Trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh hãy cho bé bú mẹ. Những giọt sữa đầu tiên này gọi là sữa non, đóng vai trò như một liều vắc - xin đầu tiên cho trẻ, giàu vitamin A, kháng thể và các thành phần bảo vệ khác. Việc cho trẻ bú, đặc biệt là khi được áp vào làn da của bạn, sẽ giúp trẻ ổn định thân nhiệt, hô hấp và đường huyết, giúp trẻ cảm thấy được che chở và yêu thương.

Từ 1 giờ sau khi sinh đến 6 tháng tuổi: Trong vòng 6 tháng đầu đời, bạn chỉ cần cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, không cần bổ sung thêm bất cứ thức ăn nào khác. Sữa mẹ có đủ nước và mọi chất dinh dưỡng mà con bạn cần trong 6 tháng đầu như: protein, chất béo, các vitamin, và nhiều khoáng chất.

Bên cạnh đó, sữa mẹ có đầy đủ DHA/ARA là những chất giúp não bộ bé phát triển tối đa. Sữa mẹ sẽ càng tiết ra nhiều hơn khi bạn cho con bú nhiều hơn. Bạn không cần cho trẻ uống thêm nước hay sữa bột hoặc các chất khác sẽ khiến trẻ không muốn bú sữa mẹ, làm giảm đáng kể lượng dưỡng chất hấp thụ được từ sữa mẹ, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh từ nguồn nước nhiễm khuẩn hoặc bình nước trẻ bú.

Giai đoạn từ 6 - 24 tháng tuổi (540 ngày): Từ khi bé tròn 6 tháng tuổi trở đi, không sớm hoặc muộn hơn, song song với việc nuôi con bằng sữa mẹ, bạn cần bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung.

Giai đoạn này, bạn cần tiếp tục cho trẻ bú sữa mẹ càng lâu càng tốt - ít nhất là đến 24 tháng tuổi. Từ 6 - 8 tháng, trẻ cần được cho thức ăn dặm 2 - 3 bữa 1 ngày. Bạn hãy tăng thêm số bữa và lượng thức ăn mỗi bữa khi trẻ lớn lên.

Trẻ cần dinh dưỡng từ nhiều nguồn thực phẩm, đặc biệt từ động vật như trứng, thịt, gan, cá, trái cây và rau củ. Rửa tay với xà phòng trước khi chuẩn bị bữa ăn hoặc cho trẻ ăn để bảo vệ trẻ.

1.000 ngày đầu đời của trẻ thật sự là cơ hội vàng không thể bỏ qua. Nuôi dưỡng bé thật tốt trong giai đoạn này chính là sự đầu tư đúng đắn nhất để bé lớn lên mạnh khỏe, thông minh và có cuộc sống hạnh phúc sau này.

Bích Hà

Quảng Ninh
Cháu chào bác sĩ! Cháu chuẩn bị kết hôn nên rất quan tấm đến sức khỏe bà mẹ và thai nhi. Xin giải thích hộ cháu về dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời ? Khi mang thai lần đầu cần lưu ý thực hiện như thế nào?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Mang thai lần đầu cần lưu ý có sự chuẩn bị về mọi mặt, trước hết cần có những hiểu biết cơ bản về sức khỏe và dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai, có sự chuẩn bị về tâm lý, sức khỏe.

Trong quá trình mang thai, cần thực hiện chế độ thăm khám thai theo định kỳ, tiêm chủng đầy đủ. Có chế độ dinh dưỡng hợp lý, duy trì chế độ sinh hoạt, lao động và nghỉ ngơi phù hợp, bổ sung viên sắt/axit folic hoặc viên đa vi chất, theo dõi sự tăng cân để biết thai nhi có phát triển bình thường hay không.

Chế độ dinh dưỡng có mức độ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của người mẹ và sự phát triển của thai nhi. Dinh dưỡng tốt không chỉ giúp người mẹ đáp ứng đầy đủ các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của cơ thể, mà còn đáp ứng những thay đổi sinh lý về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăng cân, khối lượng tử cung do mang thai.

Dinh dưỡng hợp lý khi mang thai sẽ giúp người mẹ có đủ dự trữ cần thiết để có đủ sữa sau sinh. Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất trong những tháng đầu đời của trẻ.
Vì vậy, chế độ dinh dưỡng, cách ăn uống của người phụ nữ khi mang thai đặc biệt quan trọng. Mỗi người phụ nữ cần quan tâm tới khẩu phần ăn của mình lúc mang thai một cách khoa học, đạt được mức tăng cân nặng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai.
Tình trạng dinh dưỡng tốt (BMI: 18.5 - 24.9): Mức tăng cân của người mẹ nên đạt là 10 - 12 kg. Mức tăng cân cụ thể như sau:
- 3 tháng đầu (quý 1): 1 kg
- 3 tháng giữa (quý 2): 4  - 5 kg
- 3 tháng cuối (quý 3): 5 - 6 kg
Tình trạng dinh dưỡng gầy (BMI < 18.5): Mức tăng cân nên đạt 25% cân nặng trước khi có thai.
Tình trạng dinh dưỡng thừa cân - béo phì (BMI lớn hơn hoặc bằng 25): Mức tăng cân nên đạt 15% cân nặng trước khi có thai.

Hưng Nguyên

Khánh Hòa
Tôi 27 tuổi, nam giới, làm công việc ít phải di chuyển. Tôi ăn ngon miệng, nhưng người vẫn gầy, không tăng cân dù ăn uống đầy đủ: thịt, cá, rau quả. Xin cho biết chế độ ăn như thế nào để tăng cân?

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Chào bạn! Bạn ăn đầy đủ các nhóm nhưng lượng ăn có đảm bảo đầy đủ không? Chẳng hạn, nam giới cao 1,68 m, cân nặng cần đạt khoảng 62 kg và năng lượng cần khoảng 2000 - 2200 Kcl mỗi ngày cho người lao động nhẹ.
Bạn cần lựa chọn thực phẩm phù hợp để tăng như mong muốn. 1 miệng bát cơm trắng nhỏ cung cấp khoảng 300 Kcal; 1 quả chuối chín cung cấp khoảng 90 Kcal; 1 lạng thịt bò nạc cung cấp khoảng 150 Kcal, 1 quả trứng gà khoảng 50 gram cung cấp khoảng 70 Kcal; 1 ly sữa bột 200 ml cung cấp 150 - 200 Kcal, tùy loại sữa... 
 

Đức Hải

Hà Nội
Chào chuyên gia! Con trai tôi 15 tuổi bị tóc bạc, có người nói cháu bị thiếu kẽm. Xin cho biết có thể sổ sung kẽm bằng cách nào? Thiếu kẽm có phải là nguyên nhân gây bạc tóc không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Tóc bạc là do nang tóc bị suy thoái. Đây là hậu quả của nhiều yếu tố như di truyền, stress, môi trường. Thiếu vi chất, trong đó có thiếu sắt và thiếu kẽm cũng làm cho tình trạng bạc tóc tăng lên, nhưng không đủ kết luận là nguyên nhân gây bạc tóc. Bổ sung kẽm khi có dấu hiệu thiếu kẽm, hoặc xét nghiệm thiếu kẽm.

Dấu hiệu thiếu kẽm là tóc khô xơ, rụng tóc, chán ăn, thiểu dưỡng móng tay, chân (móng dễ gãy, bong móng sớm, vệt trắng ở móng). Xét nghiệm kẽm đặc hiệu khi làm xét nghiệm kẽm trong tóc, hoặc trong huyết thanh. Nếu kẽm huyết thanh thấp thì rất có giá trị trong chẩn đoán thiếu kẽm, nếu kẽm huyết thanh bình thường mà có dấu hiệu lâm sàng rõ thì vẫn nên bổ sung kẽm, khi đó nên dùng kẽm gluconat cho cả trẻ em và người lớn. Liều điều trị khi thiếu kẽm là 1 mg/kg cân nặng.

Có nhiều biện pháp bổ sung kẽm, như khuyến khích sử dụng các thực phẩm giàu kẽm gồm các thức ăn từ động vật như hàu, cua bể, thịt bò, tôm, thịt, cá.

Sử dụng các thực phẩm có bổ sung kẽm tại cộng đồng (trên thị trường có nhiều loại thực phẩm được bổ sung kẽm như hạt nêm bổ sung kẽm, bánh quy bổ sung kẽm, bột mì bổ sung kẽm, mì tôm bổ sung kẽm, bột dinh dưỡng, sữa, cốm bổ sung kẽm...).

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là giải pháp quan trọng để phòng ngừa thiếu kẽm.

Hoài Thu

TP.Hồ Chí Minh
Chào bác sĩ dinh dưỡng! Con gái cháu hoàn toàn bú mẹ ngay sau sinh, hiện đã được hơn 5 tháng tuổi. Cháu tập cho bé bú bình nhưng bé không chịu. Tới đây cháu đi làm, làm cách nào để bé có thể bú sữa bình trong lúc mẹ đi làm vắng?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia
Bạn đã thực hiện nuôi cháu hoàn toàn bằng sữa mẹ, hiện tại cháu được 5 tháng tuổi, đây là điều rất tốt cho sự phát triển toàn diện của cháu.
Bạn cần tiếp tục thực hiện nuôi cháu hoàn toàn bằng sữa mẹ, bạn không cần phải tìm cách cho trẻ bú bình trước khi đi làm trở lại, vì bạn vẫn có thể thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, bằng cách: tranh thủ cho con bú càng nhiều càng tốt khi bạn ở nhà, ví dụ như cho con bú ngay trước khi đi làm và ngay sau khi về nhà.
Cho con bú càng nhiều càng tốt vào ban đêm - vì sữa sẽ được tiết ra nhiều hơn. Vắt sữa (cả khi ở nhà và khi đi làm ở cơ quan) để con bạn vẫn có sữa bú ngay cả khi bạn không ở nhà.
Sữa mẹ sau khi vắt ra nếu bạn không có dự định cho bé dùng ngay thì nên dự trữ trong tủ lạnh càng sớm càng tốt. Bảo quản sữa ở trong bình kín nhỏ, sạch và có nắp đậy, có dán giấy ghi ngày giờ vắt sữa. Không đổ đầy bình chứa, không đổ lẫn sữa mới vắt và sữa đã vắt trước đó.
Sữa mẹ có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong khoảng 1 - 3 giờ (với điều kiện bảo quản nơi khô mát, được che đậy kỹ); nếu để trong ngăn mát tủ lạnh, sữa mẹ có thể giữ được trong 1 - 3 ngày; nếu dự trữ sữa mẹ trong ngăn đá: thời gian tối đa có thể lên tới 3 tháng (phụ thuộc vào nhiệt độ trong ngăn đá và tần suất đóng - mở cửa tủ lạnh) và 6 tháng nếu ở trong máy ướp lạnh chuyên dụng.
Không nên để sữa mẹ ở cánh cửa ngăn đá của tủ lạnh vì nhiệt độ ở đó thường không chính xác, mà phải để lên ngăn phía trong, nơi nhiệt độ lạnh và ổn định. Khi muốn đưa sữa lên ngăn đá, bạn nên đặt sữa trong ngăn mát trước rồi chuyển lên ngăn đá.
Tương tự, khi muốn rã đông, nên chuyển sữa từ ngăn đá xuống ngăn mát khoảng 1/2 - 1 ngày trước khi mang sữa ra bên ngoài. Tuy nhiên, bạn không nên bảo quản sữa mẹ quá lâu mà nên cho bé dùng sớm nhất có thể.
Khi lấy sữa mẹ từ ngăn mát ra để sử dụng, không đun sôi sữa mà hãy để bình chứa sữa trong một nồi nước nóng trong vài phút. Đảm bảo trẻ được cho uống bằng cốc và thìa sạch. Không cho trẻ bú bình có núm vú vì trẻ bú từ bình luôn dễ dàng hơn bú mẹ nên sau khi bú bình thì trẻ sẽ không muốn bú mẹ nữa, mặt khác khi đó trẻ bú mẹ ít hơn thì làm cho sữa mẹ tiết ra ít hơn, dẫn đến mẹ bị mất sữa sớm.
Ngoài ra, bình bú với núm vú giả dễ bị nhiễm khuẩn và có thể làm trẻ bị tiêu chảy và một số bệnh khác. Nhớ rửa tay bằng xà phòng trước khi vắt sữa. Đảm bảo tất cả bình chứa và dụng cụ vắt sữa, trữ sữa được rửa sạch sẽ. 

Nguyên Bảo

TP Hồ Chí Minh
Chào chương trình! Nhà tôi có trẻ 13 tuổi, bị béo phì. Cháu rất háu ăn và thèm ăn, luôn xin thêm đồ ăn. Nếu không cho thì rất tội cho cháu nó. Xin chương trình tư vấn cách giảm tình trạng béo phì mà không ảnh hưởng sức khoẻ của trẻ. Xin cảm ơn!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Trẻ béo phì thì nhu cầu ăn càng tăng do cơ thể đòi hỏi nhiều hơn và ngại vận động do nhanh mệt nên càng làm cho tình trạng thừa cân tăng lên.

Để tránh tình trạng thèm ăn, bạn cần có chế độ ăn thấp năng lượng nhưng no lâu, tránh để trẻ đói bằng cách không bắt trẻ nhịn ăn, ăn dàn đều trong ngày nhưng kết thúc bữa ăn trước 20 giờ.

Ăn nhiều rau củ và quả ít ngọt, thịt trắng, ngũ cốc nguyên cám. Hạn chế thức ăn đường bột và béo như fastfood, đồ ăn chiên xào, thịt mỡ, da gia cầm, phủ tạng rỗng.

Trong bữa ăn nên ăn rau xanh, canh không dầu mỡ trước, ăn thức ăn và cơm hay các món tinh bột sau cùng để đảm bảo trẻ ăn ít tinh bột nhưng không thèm ăn.

Trẻ vẫn cần uống 500 - 600 ml sữa tách béo không đường/ngày để đảm bảo cho nhu cầu canxi của trẻ.

Hải Hòa

Bến Tre
Xin chào khách mời! Xin khách mời cho biết viêm gan vi rút trong gian đoạn ổn định cần lưu ý như thế nào về chế độ ăn? Có nên sử dụng thực phẩm chức năng bổ gan không? Xin cảm ơn!

Thạc sỹ Bác sỹ Trần Thị Thắm Trung tâm Dinh Dưỡng

BV Bạch Mai
Viêm gan vi rút có nhiều loại: viêm gan A, B, C, tuy nhiên cần lưu ý chỉ số chức năng gan.
Thạc sỹ - bác sỹ Trần Thị Thắm, Trung tâm Dinh dưỡng - Bệnh viện Bạch Mai, trả lời câu hỏi của bạn đọc  
Ảnh Ngọc Thắng
Viêm gan giai đoạn ổn định cần ăn thức ăn cân bằng về dinh dưỡng, đầy đủ các nhóm thực phẩm, nhưng nên tránh thực phẩm dễ gây dị ứng và những thực phẩm có hại cho gan như: ngũ cố bị mốc vì rất hại cho gan và thực phẩm chế biến không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Về thực phẩm chức năng, bạn không nên tự ý mua sử dụng. Trong trường hợp khám định kỳ, bác sĩ sẽ tư vấn cụ thể nếu cần thiết. 

Lê Vy

TP.HCM
Chào chuyên gia, cho tôi hỏi về sự tư vấn chăm sóc dinh dưỡng cho 2 bé độ tuổi 10 - 13 nha...! Hiện tại, 2 bé đi học bán trú và buổi tối đi học thêm đến 7 giờ 30 về đến nhà. Vì vậy, buổi ăn tối của các con được diễn ra trong khoảng 7 giờ 30 - 8 giờ tối. Về tiêu chí bữa ăn chuẩn là sai lệch nên xin hỏi tình trạng kéo dài như thế có ảnh hưởng đến độ béo phì hay các vấn đề khác khi các bé vào tuổi trưởng thành không? Cho tôi xin ý kiến một hướng chăm sóc tốt hơn nhé. Xin cảm ơn!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Trẻ đi học về muộn và ăn muộn, ăn xong đi ngủ luôn dễ gây tình trạng dư cân, béo phì.

Nếu không thể thay đổi được giờ ăn, bạn cần cho trẻ ăn chế độ ít năng lượng vào bữa tối (giảm bột đường và béo), bù lại các bữa ăn ban ngày của trẻ cần bổ sung nhiều hơn để đảm bảo tổng năng lượng trong ngày đủ cho sự phát triển của trẻ. 

Ngô Hà

TP.HCM
Thưa bác sĩ, vì sao ăn mặn gây tăng huyết áp? Nếu điều chỉnh ăn giảm mặn thì có cần phải uống thuốc điều trị cao huyết áp không? Trân trọng cảm ơn!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Ăn mặn sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu trong lòng mạch, kéo nhiều nước hơn vào lòng mạch dẫn đến tăng áp lực lòng mạch, tăng huyết áp. 

Khi tăng huyết áp, ngoài việc uống thuốc hạ áp thì chế độ ăn giảm muối cũng giúp huyết áp ổn hơn, nhưng không thể thay thế thuốc hạ áp nếu bệnh nhân bị tăng  huyết áp thực thụ. 

Thi Hà

TP Hồ Chí Minh
Tôi có 2 con hiện 1 bé học tiểu học và 1 bé học mầm non. Vì điều kiện công việc nên tôi cũng như hầu hết phụ huynh sống ở TP.HCM phải gửi con học bán trú. Tuy nhiên, tôi rất quan ngại vấn đề dinh dưỡng và an toàn thực phẩm học đường. Có tiêu chuẩn nào cho vấn đề này không? Các sở, ban, ngành có kiểm tra và kiểm soát chất lượng bữa ăn và nguồn thực phẩm của trường học không? Làm sao để phụ huynh có thể yên tâm về vấn đề này?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Các cơ quan chức năng đã có nhiều quy định liên quan đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) nói chung và VSATTP trong các bếp ăn tập thể nói riêng.

Luật An toàn thực phẩm được ban hành và có hiệu lực từ năm 2011, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ban, ngành T.Ư, địa phương với vấn đề VSATTP.

Các bếp ăn tập thể hoặc các công ty cung cấp suất ăn cũng phải tuân thủ những điều kiện khắt khe về VSATTP của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, các bậc phụ huynh cũng có vai trò tham gia giám sát việc thực hiện các quy định này ở các cơ sở bếp ăn, nhà trường và có thể thông qua các tổ chức như: hội cha mẹ học sinh, hội bảo vệ người tiêu dùng,… để kịp thời phát hiện và phản ánh những hành vi vi phạm tới cơ quan có thẩm quyền.

Thu Hoài

Đồng Nai
Chào bác sĩ! Mẹ tôi 69 tuổi, hay đau mỏi, đi khám mới đây được chẩn đoán loãng xương, được bác sĩ kê đơn bổ sung canxi, hẹn khám lại sau 3 tháng. Tuy nhiên, tôi thấy bạn bè nói canxi có thể gây sỏi thận. Nhờ bác sĩ hướng dẫn về chế độ ăn bổ sung canxi. Tôi xin cảm ơn!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Không phải cứ uống canxi là bị sỏi thận. Khi uống canxi và ngay cả khi bình thường không uống canxi, chúng ta vẫn cần uống nhiều nước và tăng cường vận động sẽ giảm nguy cơ tạo sỏi.

Canxi hữu cơ (có trong các thực phẩm tự nhiên) ít nguy cơ tạo sỏi hơn canxi vô cơ. Khi uống canxi kèm Vitamin D và Vitamin K2 với liều đủ sẽ giúp hấp thu và chuyển hoá canxi tốt hơn, giảm nguy cơ tạo sỏi.

Một số biện pháp phòng chống thiếu canxi như sau:
- Chế độ ăn đa dạng thực phẩm, sử dụng thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, ốc, vừng, đậu nành, mộc nhĩ, rau ngót, các loại sữa và chế phẩm từ sữa… Sữa và chế phẩm từ sữa như sữa chua, pho mát là nguồn cung cấp protein, canxi, vitamin và các chất khoáng với chất lượng cao và dễ hấp thu. Sử dụng các thực phẩm có bổ sung canxi.
- Thay đổi sang thực hiện những thói quen ăn uống có lợi cho hấp thu canxi như: cắt giảm cà phê, rượu và muối vì những chất này thường kìm hãm khả năng hấp thu canxi.
- Chế độ ăn cần đáp ứng đủ protein so với nhu cầu khuyến nghị. Nếu chế độ ăn có quá nhiều protein so với nhu cầu khuyến nghị sẽ làm cho cơ thể tăng nguy cơ thiếu canxi. Khẩu phần ăn có quá nhiều protein sẽ tăng đào thải canxi qua đường tiết niệu và làm tăng nguy cơ sỏi thận.
- Mỗi ngày nên dành ít nhất 10 đến 20 phút để tắm nắng vào buổi sáng (vào 9 giờ - 9 giờ 30 sáng mỗi ngày) để giúp cơ thể hấp thụ được nhiều Vitamin D qua da, đồng thời khẩu phần ăn có đủ dầu mỡ để Vitamin D được hấp thu qua đường tiêu hóa tốt hơn.
- Tuyệt đối không nên nhịn đói để phophate trong cơ thể không bị giảm, gây hạ canxi.
- Chỉ nên dùng viên canxi bổ sung khi có chỉ định của bác sĩ.
- Chăm chỉ luyện tập thể dục thể thao mỗi ngày để tăng cường sức khỏe.

Vũ Thịnh

bạn đọc Báo Thanh Niên
Xin chào chuyên gia! Xin cho lời khuyên về lượng rau xanh, hoa quả nên ăn hàng ngày. Cam, bưởi và sinh tố bơ, xoài... nếu ăn hàng ngày có thể thay thế cho rau xanh được không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia
Rau và trái cây đều cung cấp lượng dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, đặc biệt là vitamin C, chất khoáng và vi khoáng. Ngoài ra, chúng còn cung cấp lượng lớn vitamin A và chất chống oxy hóa. Mặc dù thế, chúng vẫn có những vai trò, tác dụng khác nhau đối với sức khỏe, vì thế không nên ăn trái cây thay thế rau, hoặc ngược lại.
Ở rau, bạn còn có thể tìm thấy lượng lớn chất xơ, muối khoáng. Đồng thời, các loại rau còn là nguồn kháng sinh thực vật giúp tăng đề kháng cho sức khỏe của bạn.
Còn trái cây có lượng calo lớn hơn rau, đồng thời trong các trái cây đều có một lượng đường nhất định. Các loại trái cây khi chín có màu hồng, đỏ, cam có hàm lượng Beta Caroten cao và giàu sắt, có khả năng phòng bệnh thiếu vitamin A, chống oxy hóa và ung thư.
Tuỳ lứa tuổi mà lượng rau, củ, quả khuyến nghị là khác nhau. Theo tháp dinh dưỡng (do Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế ban hành năm 2015) dành cho các nhóm tuổi khác nhau, lượng rau lá, rau củ quả và trái cây/quả chín cần ăn trong 1 ngày được khuyến cáo như sau:
- Trẻ em lứa tuổi mầm non ( 3 - 5 tuổi): rau lá, rau củ quả 160 gram; trái cây/quả chín 160 gram.
- Trẻ em lứa tuổi tiểu học (6 - 11 tuổi): rau lá, rau củ quả 200 - 300 gram, trái cây/quả chín 150 - 250 gram.
- Người trưởng thành: rau 240 - 320 gram, trái cây/quả 240 gram (tương đương 3 đơn vị quả).
- Phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú:
+ Phụ nữ có thai 3 tháng đầu: nhu cầu rau lá, rau củ quả và trái cây/quả chín giống phụ nữ không có thai: rau lá, rau củ quả 240 gram, trái cây/quả chín 240 gram.
+ Phụ nữ có thai 3 tháng giữa: rau lá, rau củ quả 320 gram; trái cây/quả chín 320 gram.
+ Phụ nữ có thai 3 tháng cuối: rau lá, rau củ quả 400 gram; trái cây/quả chín 400 gram.
+ Bà mẹ cho con bú: rau lá, rau củ quả 480 gram; trái cây/quả chín 480 gram.
Khối lượng của các loại rau lá, rau củ quả và trái cây/quả chín được tính ở dạng sống và không kể phần thải bỏ, sau khi chế biến. 

Minh Thư

Hải Phòng
Chào bác sĩ! Cháu đang mang thai ở tuần thứ 20, đi khám thai đầy đủ, bác sĩ cho uống bổ sung sắt và can xi, như vậy chế độ ăn cần lưu ý gì thêm? Nếu cháu uống sữa bà bầu hàng ngày có cần bổ sung thêm canxi không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Tình trạng thiếu hụt sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Việt Nam còn cao nên việc bổ sung viên sắt trong thai kỳ là cần thiết để phòng thiếu máu cho thai nhi.

Nhu cầu canxi của phụ nữ mang thai, nhất là những tháng cuối, là rất cao: từ 1.200 - 1.500 mg/ngày.

Với chế độ ăn nhiều tinh bột như chúng ta thường chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu đó. Uống ngày 500 - 600 ml sữa bầu thì có thể chỉ cần bổ sung viên đa vi chất, không cần uống canxi. Nếu bạn không uống đủ số lượng trên thì nên bổ sung thêm canxi.

Ánh Nguyệt

Hà Nội
Tôi là nữ, 37 tuổi, có bị thừa cân nên 5 tháng gần đây ăn kiêng tinh bột, tăng rau, thịt. Thời gian đầu có giảm cân nhưng 2 tháng nay thì chững lại và vẫn trong tình trạng béo (1 m 55, nặng 56 kg). Xin bác sĩ cho lời khuyên về chế độ ăn giúp giảm cân. Việc thừa cân có ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Dựa theo cân nặng và chiều cao mà bạn cung cấp thì chỉ số BMI của bạn là 23,31; vẫn nằm trong ngưỡng bình thường, nhưng có nguy cơ cao rơi vào nhóm thừa cân, nếu như bạn không có một chế độ ăn uống và luyện tập hợp lý để kiểm soát cân nặng.

Chế độ ăn lowcab (không tinh bột) hiện nay đã được chứng minh là không nên áp dụng, vì dẫn đến nhiều rối loạn chuyển hoá. Nếu bạn muốn có chế độ ăn giảm cân mà an toàn cho sức khoẻ thì đến khoa khám tư vấn dinh dưỡng người lớn để được tư vấn cụ thể cho từng giai đoạn giảm cân.

Thừa cân, béo phì thuộc nhóm bệnh không lây nhiễm, nó ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, người thừa cân béo phì dễ mắc các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường…

Ngoài ra, hệ cơ xương khớp cũng bị ảnh hưởng do phải mang trọng lượng cơ thể quá nặng nề. Với trẻ em và phụ nữ, nó còn ảnh hưởng đến vấn đề tâm lý, như kém tự tin khi giao tiếp. 

Bạn đọc của báo Thanh Niên

Thưa bác sĩ, con cháu được 18 tháng tuổi, nhưng chỉ uống sữa bình, không ăn bột cháo, cháu vẫn tăng cần và phát triển bình thường. Tuy nhiên, cháu cũng băn khoăn liệu như vậy có cần điều chỉnh không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Sau 6 tháng tuổi kể cả trẻ uống sữa tốt, tăng cân tốt thì vẫn cần phải cho trẻ ăn dặm vì lúc ấy sữa có thể cung cấp đủ năng lượng cho trẻ tăng cân nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu về các vi chất dinh dưỡng.

Bé 18 tháng cần phải ăn thêm các bữa cháo với đầy đủ 4 nhóm thực phẩm; sữa có thể dùng 500 - 600 ml/ngày.

Số bữa trong 1 ngày tùy thuộc vào lứa tuổi. Cụ thể:

+ 6 tháng: Bú mẹ là chính, thêm 1 - 2 bữa bột loãng và nước quả.

+ 7 - 9 tháng: Bú mẹ, thêm 2 - 3 bữa bột đặc cộng nước quả hoặc hoa quả nghiền.

+ 10 - 12 tháng: Bú mẹ, thêm 3 - 4 bữa bột đặc (hoặc cháo) và hoa quả nghiền.

+ 13 - 24 tháng: Bú mẹ, thêm 4 - 5 bữa cháo và hoa quả.

+ 25 - 36 tháng: Hai bữa cháo hoặc súp, thêm 2 - 3 bữa cơm nát cộng sữa bò hoặc sữa đậu nành cộng hoa quả.

+ Từ 36 tháng trở đi: Cho trẻ ăn cơm như người lớn nhưng phải được ưu tiên thức ăn (thức ăn nấu riêng); nên cho ăn thêm 2 bữa phụ (cháo, phở, bún, súp, sữa...).

Trong 1 ngày, không nên cho trẻ ăn một món giống nhau. Muốn biết đã cho trẻ được ăn uống đúng và đầy đủ chưa, hãy theo dõi cân nặng của trẻ trên biểu đồ phát triển.

Nếu trẻ lên cân đều đặn tương ứng với kênh A trên biểu đồ là trẻ đã được nuôi dưỡng tốt. Còn nếu trẻ không lên cân hoặt tụt cân (tức đường biểu diễn cân nặng nằm ngang hoặc đi xuống) thì có thể trẻ bị bệnh hoặc nuôi dưỡng không đúng.

Quốc Anh

TP.Hồ Chí Minh
Thưa bác sĩ, vì sao nên hạn chế các món ăn chế biến sẵn, đồ chiên rán? Hai con tôi đang học cấp 1 và cấp 2, có sức khỏe, cân nặng bình thường, dù đều có sở thích ăn pizza, gà rán KFC... và đồ uống ngọt. Như vậy, có cần lưu ý về chế độ ăn hay không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Đồ fastfood, chiên rán, đồ ngọt nhiều là những món có năng lượng cao, dễ gây thừa cân béo phì. Dư cân béo phì là nguyên nhân chính của dậy thì sớm của trẻ.

Hơn nữa, transfat trong đồ ăn chiên xào có nguy có gây bệnh tim mạch và ung thư cao. Vì vậy, các bậc cha mẹ nên hạn chế cho các cháu ăn các món ăn đồ chiên rán và các món ăn chế biến sẵn.

Bảo Minh Châu

TP Hồ Chí Minh
Làm sao bổ sung các vi chất cho bé ngoại trừ thức ăn? Hiện tại có rất nhiều loại thực phẩm chức năng dành cho bé, có nên cho bé bổ sung hay không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Nếu trẻ phát triển bình thường thì cách bổ sung vi chất tốt nhất là cho trẻ ăn cân đối, đầy đủ và đa dạng thực phẩm, với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì thực hiện nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời.

Người mẹ ngay giai đoạn mang thai cũng cần được bổ sung vi chất dinh dưỡng đầy đủ để bảo đảm con sinh ra khỏe mạnh, không bị suy dinh dưỡng bào thai và thai sinh ra đã có nguồn dự trữ sắt dồi dào; đồng thời, bổ sung vi chất khi trẻ có dấu hiệu thiếu hoặc khi trẻ ở giai đoạn phát triển nhanh, hoặc ở các giai đoạn bị tiêu hao nhiều vi chất như giai đoạn tiền dậy thì, phục hồi sau ốm...

Các biểu hiện sớm của thiếu vi chất dinh dưỡng thường mờ nhạt và không đặc hiệu, khi có các biểu hiện nghi ngờ (như trẻ kém ăn, chậm lớn, thiếu hoạt bát, rụng tóc,…) bạn nên đưa con đến các bác sĩ dinh dưỡng để được kiểm tra và tư vấn. 

Ở cộng đồng thì có 3 giải pháp quan trọng để bổ sung vi chất dinh dưỡng.

Thứ nhất, qua chế độ ăn đa dạng, nhiều các thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng (các thực phẩm giàu vi chất nguồn động vật như: thịt, cá, trứng, tôm cua; các thực phẩm giàu vi chất nguồn thực vật như rau ngót, rau đay, cà rốt, cà chua, các loại quả chín có màu vàng, đỏ như đu đủ, cam, chuối).

Thứ hai, sử dụng các thực phẩm có tăng cường vi chất dinh dưỡng như: muối/bột canh có bổ sung i ốt; bánh bích quy bổ sung vitamin A; canxi, sắt, kẽm…

Thứ ba, bổ sung trực tiếp bằng các chế phẩm vi chất dinh dưỡng, như viên nang Vitamin A cho trẻ nhỏ và bà mẹ ngay sau sinh; viên sắt/axit folic hoặc viên đa vi chất cho bà mẹ đang mang thai…

Mi Anh

Hà Nội
Chào bác sĩ! Mẹ chồng cháu thường ninh nước xương rồi lấy nước đó nấu cháo cho bé trai nhà cháu (hiện được 15 tháng tuổi). Cháu cho rằng ăn nhiều nước xương thì đầy bụng vì nước xương và thêm cả tủy xương rất béo, nhưng mẹ chồng cháu cho rằng như vậy có nhiều can xi, cháu bé sẽ cao. Xin bác sĩ cho lời khuyên ạ. Cháu cảm ơn bác sĩ!

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Việc ninh nước xương nấu cháo không làm tăng canxi trong khẩu phần. Vì trong nước xương không có nhiều canxi như mọi người nhầm tưởng, mà chỉ có nhiều chất béo.

Thỉnh thoảng có thể cho trẻ ăn nước xương ninh cho ngon miệng nhưng không được ăn thường xuyên và dùng nước xương chỉ giảm lượng dầu mỡ, chứ vẫn cho thêm thịt cá và rau xanh như bình thường.

Hoàng Hà

Bạn đọc của báo Thanh Niên
Xin chào bác sĩ! Mới đây, báo chí có thông tin về tình trạng thiếu hụt kẽm ở nam giới Việt Nam, xin bác sĩ cho biết cụ thể hơn về vấn đề này, lứa tuổi nào bị thiếu hụt nhiều? Việc thiếu kẽm ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe? Nam giới cần làm gì để khắc phục?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Chào bạn! Không chỉ nam giới mà cả phụ nữ và trẻ em Việt Nam đều có nguy cơ cao thiếu kẽm. Điều tra vi chất dinh dưỡng do Viện Dinh dưỡng quốc gia tiến hành năm 2015 cho thấy, có đến 80,3% số phụ nữ có thai, 63,6% phụ nữ tuổi sinh đẻ và 69,4% trẻ em bị thiếu kẽm (trẻ em khu vực thành thị bị thiếu kẽm là 49,7%, nông thôn là 71,6%, miền núi là 80,8%).

Tuy không có số liệu cụ thể về tình trạng thiếu kẽm ở nam giới trưởng thành trong cuộc điều tra này, nhưng cũng có thể hiểu rằng, tỷ lệ nam giới trưởng thành bị thiếu kẽm cũng khá cao, do ở tuổi này, các bạn phải “tiêu tốn” khá nhiều kẽm cho hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể.

Kẽm có vai trò quan trọng. Về tăng trưởng, kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym, là chất xúc tác không thể thiếu trong tổng hợp DNA, RNA và phân chia tế bào, do vậy kẽm có vai trò vô cùng quan trọng tới sự tăng trưởng và phát triển ở trẻ.

Miễn dịch, điều hòa vị giác, tạo cảm giác ngon miệng: Bổ sung kẽm làm tăng nhanh sự tái tạo niêm mạc, tăng miễn dịch tế bào, tăng tiết kháng thể.

Phát triển hệ thống thần kinh T.Ư: Kẽm tập trung nhiều ở hệ thần kinh trung ương, chiếm khoảng 1,5% tổng lượng kẽm trong toàn bộ cơ thể. Mức quay vòng kẽm trong não rất chậm. Sự kiểm soát cân bằng thể dịch cho phép não luôn giữ được lượng kẽm cao nhất trong khi cơ thể bị thiếu kẽm.

Một vấn để hiện nay đang được quan tâm là kẽm và sức mạnh nam giới. Kẽm có nồng độ cao trong tuyến tiền liệt, nó tham gia vào sự trao đổi nội tiết tố, cân bằng chức năng tuyến tiền liệt, sự hình thành và vận động của tinh trùng. Thiếu kẽm làm chậm dậy thì ở trẻ nam và dẫn tới giảm lượng tinh trùng và tần suất tình dục ở đàn ông.

Dấu hiệu thiếu kẽm là tóc khô xơ, rụng tóc, chán ăn, thiểu dưỡng móng tay chân (móng dễ gãy, bong móng sớm, vệt trắng ở móng). Xét nghiệm kẽm đặc hiệu khi làm xét nghiệm kẽm trong tóc, hoặc trong huyết thanh. Nếu kẽm huyết thanh thấp thì rất có giá trị trong chẩn đoán thiếu kẽm.

Có nhiều biện pháp bổ sung kẽm, như khuyến khích sử dụng các thực phẩm giàu kẽm gồm các thức ăn từ động vật như: hàu, cua bể, thịt bò, tôm, thịt, cá. Sử dụng các thực phẩm có bổ sung kẽm tại cộng đồng.

Trên thị trường có nhiều loại thực phẩm được bổ sung kẽm như: hạt nêm bổ sung kẽm, bánh quy bổ sung kẽm, bột mì bổ sung kẽm, mì tôm bổ sung kẽm, bột dinh dưỡng, sữa, cốm bổ sung kẽm...

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là giải pháp quan trọng để phòng ngừa thiếu kẽm. 

Trần Hùng

Đồng Nai
Con trai tôi lớp 11, cao 1m 73 nhưng chỉ nặng có 55 kg, cháu thỉnh thoảng bị đau đầu, ảnh hưởng đến sức học. Xin bác sĩ cho biết, chế độ nào để giúp cháu tăng cân? Cháu có cần phải đi xét nghiệm gì không?

BS Trịnh Hồng Sơn

Giám đốc Trung tâm truyền thông Giáo dục Dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

Theo thang phân loại của Tổ chức Y tế thế giới dành cho trẻ từ 5-19 tuổi, thì cân nặng và chiều cao của cháu vẫn trong mức bình thường.

Bác sĩ Trịnh Hồng Sơn (trái), Giám đốc Trung tâm truyền thông giáo dục dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng quốc gia, trả lời câu hỏi của bạn đọc
Ảnh Ngọc Thắng

Tuy nhiên, quan sát bên ngoài, bạn có thể thấy cháu hơi gầy do cân nặng của cháu nằm ở khoảng trung bình nhưng ở mức thấp.
Nếu với chiều cao 173 cm mà cân nặng của cháu dưới 50 kg thì cháu đã bắt đầu suy dinh dưỡng thể gầy còm (cháu cao 173 cm thì cân nặng được phép dao động trong khoảng 50 kg - 71,2 kg, tức là với cân nặng dao động trong khoảng này thì chỉ số BMI vẫn nằm trong ngưỡng bình thường).

Cháu nên ăn uống đầy đủ, không bỏ bữa sáng, ở tuổi này cháu nên chú ý tăng cường các hoạt động vận động thể lực để khối cơ/xương phát triển…

Cháu đau đầu, mệt mỏi có thể có rất nhiều nguyên nhân, cũng có thể là biểu hiện của thiếu máu dinh dưỡng. Nếu tình trạng này ảnh hưởng đến sức khỏe và việc học tập của cháu thì bạn nên cho cháu đi kiểm tra sức khỏe, các bác sĩ sẽ thăm khám và nếu cần sẽ cho làm các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán và điều trị.

Bình luận

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm