Chuyện ít biết về Sài Gòn xưa: Tổng đốc Phương ở Sài Gòn

Nguyễn Đức Hiệp

Nguyễn Đức Hiệp

(Trích từ Sài Gòn - Chợ Lớn, Ký ức đô thị và con người, NXB Văn hóa - Văn nghệ)

3 Thanh Niên
Giữa bối cảnh cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong khi tầng lớp thượng lưu Hoa - Việt ở Nam kỳ đều chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, thì ông Đỗ Hữu Phương là người đặc biệt chuộng văn hóa Pháp hơn cả.
Dinh thự của ông Đỗ Hữu Phương dọc kinh Xếp, Chợ Lớn  /// Ảnh: Tư liệu Dinh thự của ông Đỗ Hữu Phương dọc kinh Xếp, Chợ Lớn - Ảnh: Tư liệu
Dinh thự của ông Đỗ Hữu Phương dọc kinh Xếp, Chợ Lớn
Ảnh: Tư liệu
Đỗ Hữu Phương sinh ở Chợ Đũi, Sài Gòn năm 1840, mất ngày 5.5.1915. Ông là gốc người Minh Hương. Ông Phương là một trong tứ đại phú hộ Sài Gòn xưa (nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định).
Năm 1861, Pháp sau khi chiếm thành Sài Gòn đã tuyên bố Sài Gòn là cảng tự do mở cửa buôn bán với thế giới bên ngoài. Đỗ Hữu Phương thấy được cơ hội mới, ông đã tiếp xúc và làm việc với người Pháp, lúc này còn chân ướt chân ráo cố gắng tuyển dụng người thiết lập một nền hành chính còn rất sơ khai ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông được phong ngay làm chức Trưởng khu Chợ Lớn (chef de quartier Cholon), sau thành huyện Chợ Lớn. Năm 1872, ông được phong là Đốc phủ tỉnh Chợ Lớn và huân chương Bắc đẩu bội tinh. Ông về hưu năm 1897.
Đỗ Hữu Phương đã đi qua Pháp 4 lần, viếng các thủ đô ở Âu châu và đi chuyến vòng quanh thế giới vào năm 1884. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29.4.1889, có tên ông cùng với hai người con. Như vậy có thể đoán rằng ông đi chu du nước Pháp trong dịp Hội chợ thế giới 1889 kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp.
Lối sống xa hoa


Đường mang tên con trai Tổng đốc Phương ở Casablanca
Ông Phương gửi 4 người con trai qua Pháp học, trong đó có ông Đỗ Hữu Chẩn và Đỗ Hữu Vị học ở Trường võ bị Saint Cyr.
Sau khi ông Đỗ Hữu Phương mất không lâu, con trai thứ hai của ông, Đỗ Hữu Vị, phục vụ trong quân đội Pháp cũng đã hy sinh vào tháng 7.1916 trên chiến trường ở thung lũng sông Somme trong Thế chiến thứ nhất. Đỗ Hữu Vị cũng là một phi công có tiếng, ông là người đầu tiên bay ở Ma Rốc, Bắc Phi. Hiện nay, ở thành phố Casablanca (Ma Rốc) vẫn còn con đường mang tên Đỗ Hữu Vị.

Ông Phương là người có tiếng hiếu khách, tiếp đãi người nước ngoài đến thăm tư gia của ông. Ông Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, khi có dịp vào Sài Gòn cũng thường đến tư gia của ông Đỗ Hữu Phương.
Đỗ Hữu Phương giao thiệp rộng rãi và biết rất nhiều các quan chức Pháp ở Sài Gòn. Theo Hứa Hoành (trong Các giai thoại Nam kỳ Lục tỉnh), ông thường đến nhà hàng khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp - Việt thượng lưu trí thức.
Khách tới nhà chơi đều được ông Phương đãi rượu sâm banh, ăn bánh petits beurres de Nantes và uống cà phê De la Paix. Café de la Paix là quán cà phê nổi tiếng ở Paris nơi ông Phương đã tới khi đến thăm Paris.
Theo Hứa Hoành thì hồi đó có một bài ca dao rất phổ biến nói về Đỗ Hữu Phương hay đến nhà hàng cà phê de la Paix, bài ca dao này được Trương Minh Ký dịch ra Pháp văn, đại khái như sau:
“Các quan lại Pháp thường hay đến “Cà phê de la Paix”
... để gặp quan tổng đốc Đỗ Hữu Phương và quan Bonnet đang ngồi tán dóc ở đó Bạn sẽ gặp ngài Paul Blanchy (Chủ tịch Hội đồng quản hạt), cùng với ngài Morin ở đó nữa...”.
Cách sống xa hoa và sự hiếu khách của Ðỗ Hữu Phương với người Pháp đã được bá tước Pierre Barthélemy kể lại sau khi ông và các bạn của mình đến viếng tư gia của Ðỗ Hữu Phương như sau:
“Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt, và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này, thì phải viết rất nhiều trang giấy...”.
Nhà hát trong dinh thự riêng
Ông Đỗ Hữu Phương được biết vốn rộng rãi trong giới thượng lưu và nghệ sĩ ở Paris. Bạn ông, Charles Lemire, có giao thiệp rộng trong giới nghệ sĩ, nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật sân khấu, kịch và opera ở Paris.
Trong dinh thự ông còn có nhà hát, thỉnh thoảng dùng để diễn các tuồng hát bội. Nhà ông trước đây, ngày nay là đường Châu Văn Liêm (trước đó là đường Tổng Đốc Phương) không còn dấu vết gì để lại. Nhưng qua những hình ảnh còn lại ta có thể thấy sự bề thế của dinh thự ông. Một kiến trúc kiểu Tây nhìn từ phía ngoài nhưng bên trong là phong cách Á Đông.

Bình luận 3

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết
HMT

HMT

CHÂU VĂN LIÊM là Ai vậy ???
baoluu

baoluu

Có 1 giai thoại lúc đắc thời Tđ Phương có ra câu đối;đất Chợ Lớn có nhà họ Đỗ;đổ 1 nhà ngủ phước tam đa[nhà có 5 trai 3 gái].Hèn lâu sau có người đưa vế đối mà ko dám ra mặt e bị chặt đầu :cù Lao Rồng có lủ thằng phun;phún lủ Cửu trùng Bát nhả[đối san sát từ chử từ vần từ ý mà nay ít ai còn nhớ
tonydo

tonydo

Thêm 1 giai thoại nửa:mấy năm trước sau 1945 thời Sáu Ngọ vua cờ bạc và danh kỷ cô Ba Trà đương thời tại SG;dinh quan TĐ có lẻ con cháu xuống dốc nên cho mướn để đổ bát cờ bạc hốt me;bọn nầy cự cải lộn chưởi thề vang trời quăng tàn thuốc khạt nhổ văng tu81 tung trước bàn thờ tổ Phụ của quan TĐ vang danh đất Đề .Âu cũng là Căn Quả[trồng đậu ăn đậu ;trước trồng khổ qua nay con cháu hưởng đắng cay lây tới vùa hương bát nước bàn thờ ông bà nhục ơi là nhục

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm

Dịch giả Dương Tường đã chuyển ngữ Kiều trong suốt 2 năm, khi mắt ông đã lòa /// Ảnh: An An

Truyện Kiều 'ra thế giới'

Cuốn Kiều in Dương Tường’s version, bản chuyển ngữ tiếng Anh Truyện Kiều (Nguyễn Du) của dịch giả Dương Tường, vừa 'ra lò'. Dương Tường hạnh phúc đón 'đứa con' được 'thai nghén' trong suốt 2 năm, lúc mắt ông đã không còn nhìn được nữa.