Gian lận trong thi cử ngày xưa: Tráo bài, sửa bài lúc chấm thi

Đánh giá tác giả

1 Thanh Niên
Dù quy định nghiêm cẩn, rạch ròi đâu ra đó nhưng vẫn xảy ra sự gian lận lúc chấm thi.
Thí sinh bị phạt đeo gông trước trường thi /// Ảnh: Tranh trích trong tập  Technique du peuple Annamite của Henri Oger - 1909 Thí sinh bị phạt đeo gông trước trường thi - Ảnh: Tranh trích trong tập Technique du peuple Annamite của Henri Oger - 1909
Thí sinh bị phạt đeo gông trước trường thi
Ảnh: Tranh trích trong tập Technique du peuple Annamite của Henri Oger - 1909
Quy định nghiêm cẩn lúc thi
Vừa dựng xong lều, chưa kịp nghỉ ngơi đã nghe vang vọng tiếng trống “ra đầu bài”, các thí sinh (TS) nhanh chân ra ghi đề và trở lại lều của mình để làm bài. Phải làm bài bằng quyển thi nhận từ tay người lại phòng trước khi vào trường thi, trong đó có đóng dấu “giáp phùng” - để TS không thể tráo những tờ khác vào và phải viết đè lên chỗ đóng dấu. Nếu TS viết sai, muốn xé bỏ một tờ trong đó thì phải lấy giấy đóng thành quyển thi khác và xin quan trường đóng dấu lại. Dù phải viết đè lên dấu “giáp phùng”, nhưng tuyệt đối cấm “đồ, di, câu, cải” tức là tẩy xóa, sửa chữa... nếu không sẽ bị tội “thiệp tích” vì bị nghi ngờ có ý đồ đánh dấu thông đồng với quan chấm thi.
Trong thời gian làm bài, khi có tiếng trống báo hiệu, TS phải cầm bài thi chạy nhanh ra nhà Thập đạo để “lấy dấu nhật trung”. Đây là chứng cứ bài làm tại trường thi chứ không phải viết sẵn ở ngoài đưa vào; và TS không được viết đè lên dấu này. Lúc trời về chiều thì có tiếng trống “thu quyển” - tức nộp quyển thi. Bấy giờ, trước khi đem nộp, TS phải cộng các chỗ mà mình đã “đồ, di, câu, cải” và viết dưới chữ “cộng quyển nội” - để phòng quan trường gian lận chữa thêm vào. TS nộp bài xong, hòm đựng bài thi được niêm phong và khiêng vào nhà Thập đạo, khóa bằng sắt, canh phòng cẩn mật.
Phạt nặng người chấm thi tráo, sửa bài
Dù quy định nghiêm cẩn, rạch ròi đâu ra đó nhưng vẫn xảy ra sự gian lận lúc chấm thi. Sử còn chép lại vụ lùm xùm, ầm ĩ liên quan đến con trai Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Trong khoa thi Hội năm 1778, giám sinh Đinh Thời Trung đã đổi quyển văn cho Lê Quý Kiệt. Sự việc bị phát giác, Thời Trung bị đày đi xa (có sách nói là đi Yên Quảng, Quảng Ninh ngày nay); Quý Kiệt bị đuổi về làm thứ dân. Bấy giờ, dân gian có câu châm biếm, mỉa mai (dịch nghĩa): “Thời Trung bị phát phối làm chấn động văn phong vùng Yên Quảng/Quý Kiệt về làm dân tăng thêm suất đinh cho đất Duyên Hà”.
Bi thảm hơn là trường hợp Hội nguyên Ngô Sách Tuân bị tội giảo, tức phải thắt cổ chết. Năm 1696, ông can tội vì xin chấm bài cho một thí sinh thi Hương. Còn Nguyễn Trật sau khi đỗ thi Hội vào năm 1623, lúc vào thi Đình, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Trật ngầm mượn người làm bài, việc phát giác, vương không bằng lòng, cho nên khoa ấy không treo bảng”.
Lén lút đem tài liệu vào trường thi cũng từng xảy ra. Năm 1826, Đặng Tế Mỹ bị phát giác, nhân việc này, bộ Lễ xin tăng mức phạt cao hơn nữa. Tế Mỹ là người đầu tiên bị hình phạt đóng gông trong 1 tháng, sau đó bị đánh bằng trượng rồi mới được tha. Ngoài ra, Mỹ cũng bị tước bằng cử nhân. Chi tiết này cho thấy, nhà Nguyễn rất nghiêm minh xử lý gian lận trong thi cử.
Ngay cả TS, nếu thông đồng với quan trường để đổi quyển thi cũng bị phạt nặng. Khoa thi Hương năm 1834, hai ông Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Thái Để sau khi lo lót được quan trường “bật đèn xanh” cho thay quyển thi cũ đã bị đánh hỏng. Sự việc vỡ lở, cả hai bị tước học vị cử nhân. Năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi mở ân khoa, thế nhưng họ vẫn không được thi. Mãi gần mười năm sau, họ mới được thi lại và đỗ đến tiến sĩ, thám hoa.
Trường quy thời xưa rất nghiệt ngã, hà khắc với những quy định như “trọng húy” (không được dùng bất cứ chữ gì có dính dáng đến tên nhà vua), “khinh húy” (tên những bà vua, mẹ vua, hay tiên tổ lâu đời của nhà vua)... Đã từng lều chõng nên danh sĩ Cao Bá Quát rất thấm thía điều này, và bản thân ông cũng ngầm phản đối trường quy. Khi công tác ở Bộ Lễ, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Nhận thấy nhiều bài thi khá nhưng lại phạm quy vì các lỗi lặt vặt, sơ suất nhỏ, không muốn người có tài bị đánh rớt, ông bàn với người bạn là Phan Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Chẳng may thiện ý này bị phát giác, Cao Bá Quát bị tống vào ngục. Vua Thiệu Trị giảm tội ông từ trảm quyết xuống giảo giam hậu. Trong thời gian bị tù ngục, Cao Bá Quát bị nhục hình, tra tấn dữ dội. Ông đã viết nhiều bài thơ thống thiết kể lại tháng ngày tàn khốc này như Thiên vịnh cái gông dài, Bài ca cái roi song… Sau gần ba năm bị giam cầm, Cao Bá Quát được triều đình tạm tha, nhưng bị chuyển vào Đà Nẵng, cho đi “dương trình hiệu lực” - tức lúc phái đoàn triều đình công cán nước ngoài, phạm nhân được đi theo phục dịch để lấy công chuộc tội.
Khi khảo cứu về Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở VN thời phong kiến (NXB Giáo Dục, 1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Cường kết luận: “Cuộc đấu tranh chống thi gian là cuộc đấu tranh trường kỳ không lúc nào được lơi lỏng, nếu còn tổ chức thi còn thi gian, phải chống lại để đảm bảo công bằng thi cử, chọn được đúng người giỏi, dùng đúng người vào đúng việc” (tr.325).

Bình luận 1

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

La Tiếu

Ngày xưa ông bà ta đã biết "dùng đúng người vào đúng việc", chứ không phải "sai đâu sửa đó" như bây giờ

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm