Lắt léo chữ nghĩa: Khéo léo vốn không phải là từ láy

Đánh giá tác giả

1 Thanh Niên
Khéo léo là một mục từ trong Từ điển từ láy tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Văn Hành chủ biên (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994).
Toàn cảnh khu đấu xảo, Hà Nội năm 1902  /// ẢNH: T.L Toàn cảnh khu đấu xảo, Hà Nội năm 1902 - ẢNH: T.L
Toàn cảnh khu đấu xảo, Hà Nội năm 1902
ẢNH: T.L
Với nhận thức của mình, các nhà chuyên môn đã liệt nó vào hàng ngũ từ láy thì, nói chung, người nói tiếng Việt khó có thể quan niệm rằng đó là một cấu trúc ghép đẳng lập mà dĩ nhiên là hai thành tố đều có nghĩa. Ấy vậy nhưng trong khéo léo thì cả khéo lẫn léo đều có nghĩa.
Khéo là một từ Việt gốc Hán và là âm xưa của chữ [巧], mà âm Hán Việt hiện hành là xảo, như trong gian xảo, kỹ xảo, xảo ngôn, xảo quyệt, xảo trá và đặc biệt là đấu xảo, hai tiếng mà hồi đầu thế kỷ 20, người VN dùng để chỉ hội chợ, triển lãm. Năm 1902, Hà Nội từng có một hội chợ triển lãm lớn tại khu đấu xảo, một quần thể kiến trúc thực sự hoành tráng, mà tòa nhà chính do kiến trúc sư người Pháp là Adolphe Bussy thiết kế. Đây thực sự là một lâu đài mà Pháp gọi là Grand Palais d’Expositions. Trong Thế chiến 2, quân Nhật lấy khu này làm trại lính nên đã bị Mỹ ném bom tàn phá, bây giờ không còn dấu tích gì ngoài hai con sư tử bằng đồng đem đặt trước rạp xiếc tại khu vực công viên Thống Nhất. Nguyễn Khuyến từng có bài thất ngôn đường luật vịnh cuộc đấu xảo này nhan đề Đấu xảo ký văn.
Trở lại với hai tiếng đấu xảo [鬥巧], xin nói rằng nó đã có từ xưa bên Trung Quốc và ban đầu chẳng có liên quan gì đến hội chợ, triển lãm cả. Nó là sinh hoạt văn hóa của đêm thất tịch (mùng 7 tháng 7 âm lịch): phụ nữ, chủ yếu là các cô gái trẻ thi thố với nhau về nữ công, gia chánh trong đó có tiết mục thi xỏ lỗ kim. Hễ cô nào xỏ chỉ qua được bảy cái lỗ kim thì “đắc xảo” (được [cuộc thi] khéo) và được gọi là “xảo thủ” (người khéo tay [bàn tay khéo]), không được thì “thâu xảo” (thua [cuộc thi] khéo).
Còn léo thì sao? Đây là một từ cổ may mắn còn được ghi nhận trong vài quyển từ điển như Dictionnaire Annamite - Français của J.F.M. Génibrel, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, đặc biệt phong phú về mục từ là Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của: - Léo. Ý tứ, thế thần, mưu chước. - Léo lắc (sic). Khôn khéo, ý tứ. - Đánh léo. Làm khôn khéo, làm quỷ quyệt. - Làm léo. Đi léo. Cùng nghĩa [với đánh léo] - Khôn một người một léo, Khéo một người một ý. - Lắc (sic) léo. - Tinh léo. Tính khôn quỷ, có ý lường gạt. - Ăn léo. Ăn gian, làm quỷ quyệt”.
Với những nghĩa và thí dụ trên, ta có thể thấy rằng léo cũng là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [了], mà âm Hán Việt hiện hành là liễu. Trong các nghĩa mà Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) ghi cho chữ này thì “thông minh, hữu tài trí” (nghĩa 4) chính là cái nghĩa gốc đã đưa từ léo vào tiếng Việt, ban đầu là với tư cách vị từ tĩnh (tính từ), rồi về sau mới chuyển loại thành danh từ trong một số trường hợp cần thiết.

Bình luận 1

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

teen20

khéo léo mà là từ láy gì chứ...long lanh..lấp lánh..tua tủa..

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm

 /// Minh họa: Tuấn Anh>

Ngồi đường - Truyện ngắn của Hồ Anh Thái

Trong lớp tôi có một cặp vợ chồng. Mary và Brian, người Mỹ. Họ ra vào nhẹ nhàng, gần như là khép nép, gần như là nhón gót mà đi. Nói năng thì gần như là nói thầm, có khi đấy là kiểu nói của người Mỹ. Sau này sống trên đất Mỹ, trong đám người quen, tôi hầu như không gặp người nói to.
Chén chè tết Trung thu>

Chén chè tết Trung thu

Đã xa lắm rồi cái tuổi được ăn Tết Trung thu, lòng vẫn nao nao nhớ về thời bé dại khi nghe tiếng trống múa lân rộn ràng đêm rằm tháng tám, khi nghe thiếu nhi xóm tôi cất lên tiếng hát: 'Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ…'.