Một ý kiến về câu hỏi: 'Chim lạc là chim gì?'

8 Thanh Niên Online
Ngày 30.5.2021 trên mục Lắt léo chữ nghĩa của Báo Thanh Niên có đăng bài viết "Chim lạc" là chim gì? của tác giả Vương Trung HiếuBài viết đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi khác nhau sau đó. Dưới đây là ý kiến của PGS-TS Lê Anh Tuấn (ĐH Cần Thơ).
Chim diệc lửa /// ẢNH: T.L Chim diệc lửa - ẢNH: T.L
Chim diệc lửa
ẢNH: T.L
Trong bài báo này, tác giả cố gắng giải đáp câu hỏi nguồn gốc của chữ lạc và loài chim lạc qua các thư tịch cố, gốc tích từ chữ Hán, chữ Nôm và cả hình thái bên ngoài của các loài chim. Bài viết có nhiều ý kiến khác nhau từ các bạn đọc như ở phần bình luận.
Theo đánh giá của cá nhân tôi, cách giải thích này dường như khó thuyết phục, hình con chim lạc trên chiếc trồng đồng Ngọc Lũ – chiếc trống Đông Sơn cổ nhất và được khá nhiều người biết. Các nghiên cứu khảo cố cho biết trống đồng Ngọc Lũ hiện còn lưu giữ cẩn thận ở Viện Viễn Đông Bác cổ trước kia như một báu vật quốc gia, có tuổi khoảng 2.500 năm trước đây, nghĩa là với mốc thời gian đó thì chữ Hán chưa hiện diện ở nước ta, theo một số tài liệu các nhà Hán học thì chữ Hán vào Việt Nam vào khoảng cuối đời nhà Tần, vào cuối thế kỷ thứ 3 TCN, còn chữ Nôm thì trễ hơn rất nhiều, hình thành trong giai đoạn từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 12. Như vậy không thể dùng chữ nghĩa xưa để giải thích một truyền thuyết trên 2.500 năm, thập chí từ đời vua Hùng, từ Lạc Vương đến nhiều thế kỷ sau với với tên nước Lạc Việt.
Một ý kiến về câu hỏi: 'Chim lạc là chim gì?' - ảnh 1

Hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Còn dùng các hình dạng con chim như chim diệc, chim vạc hay cò, cả theo ý tác giả có thể là hồng hoàng… cũng khó thuyết phục nếu chỉ dựa vào một số hình dạng hao hao bên ngoài để đoán.
Các giải thích còn lại, theo tôi, là phải dựa vào ngôn ngữ nói cổ xưa và một số từ xưa còn sót lại. Trống đồng Ngọc Lũ được phát hiện ở vùng Ngọc Lũ, vùng hạ lưu tả ngạn sông Hồng. Hoa văn trên mặt trống rất độc đáo với những dãy nhà sàn, các hình người đội nón gắn lông thú, với các hoạt động giã gạo, nhảy múa trên thuyền, bên cạnh các con thú ở dưới và chim bay trên trời, đậu trên mái nhà và dưới ánh mặt trời. Xin lưu ý là ở Indonesia, cũng có những cái trống đồng tương tự nên có giả thuyết là người Việt và người Indonesia có quan hệ giao lưu hay di dân. Dựa vào các dấu hiệu này và tập quán sinh sống, chúng ta thấy người Việt và người Indonesia đều có thói quen sinh sống và di cư theo các vùng đất ngập nước như hồ đầm, ven sông, ven biển để dễ canh tác và đi lại. Văn minh người Việt vẫn là văn minh sông nước.
Trở lại câu hỏi nguồn gốc chim lạc, chim lạc là chim gì mà bây giờ chúng ta không tìm thấy sự hiện hữu. Nếu có dịp đến các vùng đất phía Bắc cho thấy phát âm - tiếng nói có sự tương đồng liên quan đến chữ LẠC. Người phía Bắc, vốn phát âm lẫn lộn giữa chữ L và N, như làm và nàm chẳng hạn, người xưa xem việc nói chữ A và ƯƠ tương tự, như nói một lạng vàng hay lượng vàng như nhau, lên đàng như lên đường, tràng và trường,… phát âm từ C và K cũng như nhau. Dấu sắc (‘) và dấu nặng (.) trong phát âm vùng miền Bắc, miền Trung hay pha trộn nhau. Kết quả là L # N, A # ƯƠ và C # C/K nên phát âm chữ LẠC tương đồng chữ NƯỚC.
Nếu giải thích trên đây là chấp nhận thì “chim lạc” chính là “chim nước”, nghĩa là tập hợp các loại chim sống ở vùng nước, từ chim diệc, vạc, cò, hồng hoàng… phù hợp với nếp sống của tộc người Việt cổ. Suy ra như thế, những từ được ghi lại khi bắt đầu có chữ viết: Lạc Việt sẽ hiểu như là nước Việt, Lạc Vương là vua của nước, Lạc hầu là quan của nước, Lạc tướng là tướng của nước, các từ cổ xưa như Lạc điền là ruộng nước, Lạc thôn là làng nước. Ở vùng đất miền Trung từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh đến Thừa Thiên - Huế người dân có phương ngữ “nác”, có nghĩa là nước, như "đọi nác" là "bát nước". Ở Nghệ An, người dân nói “nác su” có nghĩa là “nước sâu”, có câu ca xưa “Trăm rác lấy nác làm sạch”. Ở Tây Nguyên có hồ nước gọi là hồ Lak (tỉnh Đắk Lắk), có thể coi chữ C và K tương đồng.
Một ý kiến về câu hỏi: 'Chim lạc là chim gì?' - ảnh 2

Hình chim Lạc đang bay xen kẽ chim mỏ ngắn đang đậu

Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Tiếng Việt chúng ta có cái hay là chữ nước và chữ quốc gia, đất nước có cùng nghĩa. Nước ngoài nghĩa là một dạng tài nguyên thiên nhiên, còn là nguồn sống, là đất nước quê hương. Các nước khác khi đặt tên quốc gia thường dùng chữ đất (Land) như Thailand (Thái Lan), The Netherlands (Hà Lan), Finland (Phần Lan)…, nhưng người Việt dùng chữ Lạc Việt, là nước Việt, thì thật độc đáo. Người Việt đi xa thường nói nhớ “nước” hơn là nhớ đất.
Bà Huyện Thanh Quan có câu thơ rất hay: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”. Việc truy tìm nguồn gốc tên nước Lạc Việt, chim lạc là điều thú vị. Có lẽ giả định nguồn gốc chữ lạc sẽ có những đồng tình hay bài bác, có thể sẽ không dẫn đến một kết luận chắc chắn nhưng sẽ giúp chúng ta thêm yêu đất nước và ngôn ngữ dân tộc.

Bình luận

User
Gửi bình luận
nhà quê

nhà quê

Tôi hoàn toàn không đồng ý bất cứ một quan điểm nào của bài viết ở trên.

- Lạc Long Quân (sông nước) + Âu Cơ (đất liền, núi đồi) = "đất - nước" Văn Lang.

Người Việt ngày nay chỉ gọi "nước" (quốc gia) là do thói nói tắt, nói lược bớt từ ngữ.

- Tại sao ở Indonesia ngày nay lại có tàn tích vật dụng tương tợ như văn hóa người Việt?
Lý do 1: Hàng trăm ngàn năm trước, bán đảo Đông Dương & quần đảo Indonesia & quần đảo Malaysia = là một vùng lục địa thống nhất. Về sau, chìm dần xuống dưới mực nước biển, nên những phần còn lại nhô lên khỏi mực nước biển (chưa bị chìm) đã trở thành bán đảo Đông Dương + vô số đảo lớn nhỏ khác nhau. Do đó mà việc bị phân rã nhóm người thuở sơ khai ra các vùng lục địa khác nhau, đã trở thành những "thổ dân" đầu tiên của vùng lục địa mới --> rồi đến một ngày, thế hệ sau nhận thấy dân ở các vùng ấy có vài đặc điểm giống nhau và ngạc nhiên.
Lý do 2: Có thể là sự giao thương, giao lưu văn hóa giữa những đội tàu thám hiểm xưa, hoặc sự gia nhập văn hóa sau quá trình "lây lan" từ vùng đất này sang vùng đất khác, hoặc thậm chí là thành quả từ những trận cướp bóc trên biển.

- "người xưa xem việc nói chữ A và ƯƠ tương tự, như nói một lạng vàng hay lượng vàng như nhau, lên đàng như lên đường, tràng và trường" --> Xin thưa, "lạng - lượng", "đàng - đường", "tràng - trường" là khẩu âm vùng miền của người Trung Hoa. Qua nhiều giai đoạn bị đô hộ bởi các triều đại khác nhau, người Việt bị du nhập nhiều nét khác nhau trong phát âm vùng miền của người Hoa suốt hàng ngàn năm.

- Người Việt cũng vậy. Bị ảnh hưởng rất nhiều bởi vùng miền. Nhưng xin hãy nhớ: Ngôn ngữ, khẩu âm của tầng lớp thống trị có tiếng nói mạnh nhất mới quyết định việc ngôn ngữ biến chuyển và sinh tồn như thế nào. Mà việc "nác" - "nước" là khẩu âm phổ biến của vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, là vùng xa nhất của lãnh thổ Văn Lang xưa, thì chắc chắn không có và không đủ năng lực để quyết định khẩu âm vùng toàn bộ Bách Việt.

- Hơn 4.000 năm trước, ngôn ngữ của vùng phía nam sông Dương Tử (biệt danh là "Trường Giang") mới là ngôn ngữ chính của đất nước Văn Lang phần phía bắc, và tiếng Mường là ngôn ngữ chính của đất nước Văn Lang phần phía nam. Do đó mà đã xuất hiện và vẫn còn tồn tại một số ít từ, ngữ mang dấu ấn của "văn hóa Hán" ngày nay, như: Kinh Dương vương, Lạc Long quân, Âu cơ, Văn Lang.

- Về sau, người Hoa Hạ (là tập hợp của những bộ lạc du mục phía Tây Bắc của Trung Quốc ngày nay) thực hiện vô số cuộc xâm chiếm xuống phía nam, rồi đồng hóa, rồi quy nhập lãnh thổ, rồi lấn đất và đô hộ quần thể Bách Việt. Cho nên, Bách Việt bị phân rã và tan tác, bị mất Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, v.v... vào tay Hoa Hạ.

Phần bị xâm chiếm ở phía bắc bị đồng hóa.
Phần bị co cụm ở phía nam tiếp tục sinh tồn và phát triển, trong đó ngôn ngữ Mường (xưa) trở thành ngôn ngữ chủ đạo.

- Mấy ngàn năm trước, dân trí và sự phát triển... hầu như là không có. Cho nên chúng ta cũng đừng "hình tượng" quá mức về những chữ nghĩa, những biểu tượng này kia. Nội chỉ hơn 150 năm trước thôi, khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam và chụp những pose ảnh về đời sống và sinh hoạt của người Việt khi ấy, thì chúng ta nếu nhìn thấy thì đã rất sốc với nét "mọi", nét "thổ dân" của người Việt chúng ta rồi. Huống chi mấy ngàn năm trước, thì còn "mọi rợ", còn "rừng rú" đến mức nào nữa!!

Người Việt của mấy ngàn năm trước thì cũng như những thổ dân du mục, những người thiểu số chưa tiến bộ mà thôi. Cần đào củ mà ăn, trồng cái cây, trồng cây lúa, đã là tốt lắm rồi. Khi ấy, thấy con vật có 4 chân mà kêu "bòòòooo..." thì gọi là con bò, thấy đàn chim săn bắt tôm tép, cá con trên đồng ruộng mà kêu "vạccc...", "diệccc...." thì gọi là chim V/Diệc thôi.

Loài người của hơn bốn ngàn năm trước rất hoang sơ, rất mông muội, rất bản năng. Không phải là những "du khách ngoài hành tinh" với trình độ tiên tiến và văn minh. Hãy đừng dùng cái "thấy" của thời bây giờ, mà phán xét ngược về cái "nhìn" của thời ấy.
Than Trong Huy

Than Trong Huy

Đọc bài này, tôi nghĩ đến truyện "Sác men đi sinh vào ngày nào" của A. Nê-xin
Ron Luu

Ron Luu

Còn hạc thi đúng hơn
Huê Nguyễn phú

Huê Nguyễn phú

Tôi đồng ý với ông PGS- TS ở ĐH Cần Thơ này. Dù chỉ là tìm hiểu 1 cái tên " chim Lạc" của người Việt Cổ, thì cũng phải đi tìm nguồn gốc của nó từ kho " tiếng Việt Cổ". Mà " tiếng Việt cổ" tồn tại từ hàng nghìn năm trước, mai một dần theo thời gian, chỉ còn sót lại 1 ít trong số ít làng xã ở VN. Theo tôi biết thì ở 1 sô vùng thuộc Nghệ an hiện nay còn lưu giữ nhiều từ Việt cổ. Nhưng hình như chưa ai tập hợp nghiên cứu sâu về vấn đề này. Nói dài thì tôi hết chữ. Nhưng tôi cũng cho rằng " chim Lạc" là các loại chim sống trong môi trường nước có nhiều trong các vùng đầm lầy ở vùng Bắc Bộ xưa mà quá trình bồi đắp phù sa chưa hoàn thiện thành đồng bằng như bây giờ. Đầm lầy, sông hồ, khi ấy chính là môi trường sống của người Việt cổ, hình thành nên văn hóa, tiêng nói cổ.
Xem thêm bình luận

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm