Lắt léo chữ nghĩa: Sư, sư phó và sư phụ

Vương Trung Hiếu
Vương Trung Hiếu
18/11/2023 07:38 GMT+7

Trong tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán. Xin phép giới thiệu ý nghĩa và nguồn gốc của vài từ liên quan đến người dạy học như "sư", sư phó" và "sư phụ".

Trước hết, xin bàn về chữ (師). Xét về từ nguyên, ở Trung Quốc, (師) là ký tự xuất hiện trong Giáp cốt văn thời nhà Thương, ban đầu là từ dùng trong quân đội: "sư đoàn" thời đại Thương-Chu; cứ 2.500 người gọi là một (Chu Lễ. Địa quan. Tiểu tư đồ) hoặc đề cập các thành phố lớn (kinh sư - Thi kinh. Đại Nhã. Công Lưu); người đứng đầu, lãnh đạo (Chu Lễ. Thiên Quan. Tự Quan); người dạy đạo cho mọi người (Ngọc Thiên); về sau là tên một quan chức có trách nhiệm giáo dục người dân rồi mở rộng chỉ người dạy học (Thượng thư đại truyện, tập 4); người có kỹ năng hoặc kiến thức chuyên môn (Mạnh Tử. Cáo Tử thượng), đồng thời là hình mẫu, tấm gương cho người khác noi theo (Luận Ngữ. Khổng Tử); bậc thầy văn chương (Lễ Ký. Văn vương thế tử); tiếng tôn xưng nhà tu hành; tín đồ Phật giáo tôn xưng Phật Thích-ca Mâu-ni; tiếng kính xưng của tăng đồ đối với thầy dạy mình (Thủy hử truyện). còn được dùng như một kính ngữ. Xét về động từ, có nghĩa là bắt chước, học hỏi...

Sư phó (師傅), một từ xuất hiện vào thời Chiến Quốc, nghĩa gốc dùng để chỉ lão sư (老師: thầy dạy học) trong Cốc lương truyện thời Chiêu Công năm thứ 19. Sau thời Tần và Hán, sư phó còn có nghĩa là thầy dạy học, kể cả thầy của các hoàng đế (Sử Ký).

Từ thời Tây Hán đến thời nhà Minh và Thanh, sư phó là cách gọi vua chúa phổ biến nhất, song vào đầu thời Nam Tống, sư phó còn dùng để chỉ người dạy học bình thường; sau thời kỳ giữa và cuối nhà Thanh thì sư phó còn có nghĩa là người dạy kỹ năng về công nghiệp, thương mại, kịch nghệ và các ngành khác.

Sư phụ (師父 ) là từ ra đời trễ hơn, tuy xuất hiện hàng trăm lần trong Tứ khố toàn thư (thời Càn Long, nhà Thanh), song chúng ám chỉ điều gì đó khác với cách hiểu sư phụ là thầy dạy học vào thời nhà Đường (Lương thư). Trong Văn uyển anh hoa, sư phụ có nghĩa giống sư phó, là thầy dạy học nói chung và thầy của hoàng đế.

Sau thời nhà Đường, từ sư phụ bắt đầu dùng để chỉ những người có kỹ năng đặc biệt (Trung Triều cố sự của Úy Trì và Lương khê mạn chí của Phí Cổn). Thời nhà Nguyên và Minh, sư phụ là kính ngữ dùng để tôn xưng các nhà sư và đạo sĩ (Nguyên sử. Hình pháp chí).

Sư phụ còn là kính ngữ mà người học dùng để gọi thầy mình. Đối với người con, khái niệm sư phụ thể hiện qua câu "Phụ sinh chi, sư giáo chi" (Cha sinh, thầy dạy). Về cơ bản thì sư phụsư phó giống nhau, nhưng từ sư phụ mang tính cảm xúc hơn, nên người xưa có câu: "Nhất nhật vi sư, chung sinh vi phụ" (Một lần là thầy, mãi mãi là cha).

Ở Việt Nam, ngày nay có những từ khác thay cho từ "sư, sư phó, sư phụ". Song việc hiểu rõ ý nghĩa và nguồn gốc của những từ này (và những từ Hán Việt khác) sẽ giúp cho việc đọc và cảm thụ văn bản, tuồng cổ và phim cổ trang tốt hơn. Ví dụ, biết vì sao gọi Chu Văn An là sư phó (vì ông đã từng dạy thái tử Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông về sau).

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.