Quân đội Anh hiện có nhiều lực lượng đặc nhiệm nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Special Air Service (SAS). Thành lập từ năm 1942, SAS được nhiều chuyên gia quân sự xem là hình mẫu đầu tiên của một đội biệt kích thời hiện đại. Đến nay, một số lực lượng đặc nhiệm trên thế giới vẫn được xây dựng theo mô hình của SAS.

Trong một hội thảo do Bộ Quốc phòng Pháp tổ chức, GS Anthony Clayton của Học viện Quân sự Hoàng gia Sandhurst (Anh) cho biết nhiệm vụ chủ yếu của các lực lượng đặc nhiệm Anh thường không ở tiền tuyến. Các “siêu chiến binh” phải xâm nhập những khu vực do phe đối phương kiểm soát để thăm dò tin tức, tổ chức tấn công các mục tiêu trọng yếu. Phần lớn đều là các nhiệm vụ chớp nhoáng.

 “Siêu chiến binh” đặc nhiệm: Khuôn mẫu của biệt kích hiện đại - ảnh 1
Biệt kích SAS trong một đợt huấn luyện giải cứu con tin - Ảnh: Eliteukforces.info

Chiến dịch Nimrod

Sau Thế chiến 2, SAS gần như bị giải tán để sáp nhập vào các đơn vị khác của quân đội Anh, chỉ còn lại vài trung đoàn cốt yếu. Danh tiếng lẫy lừng của SAS đến nay là từ Trung đoàn 22, thành lập năm 1951.

Ngoài các “siêu chiến binh”, SAS còn có 4 đội kỹ thuật đặc biệt bao gồm các bác sĩ “phản ứng nhanh” có thể phẫu thuật khẩn cấp tại chiến trường, chuyên gia về chất nổ, các nhà ngôn ngữ học có khả năng học cấp tốc những phần cơ bản của một thứ tiếng lạ và các chuyên gia liên lạc có thể xử lý các loại sóng thông tin của nhiều nước.

Trung đoàn 22 được tổ chức ngày càng chuyên nghiệp hơn và đã là hạt nhân chính trong nhiều chiến dịch quân sự của Anh, theo tờ Le Point. Tại cuộc chiến với Argentina năm 1982 do tranh chấp chủ quyền quần đảo Falkland (Argentina gọi là Malvinas), 60 lính biệt kích của Trung đoàn 22 đã phá hủy các tên lửa chống tăng của Argentina trước khi quân đội Anh đổ bộ. Trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1990, lực lượng này tiến sâu vào các trận địa thực hiện “tâm lý chiến”, tạo ấn tượng rằng các toán quân của LHQ rất hùng hậu.

Chiến công được biết đến nhiều nhất của SAS là chiến dịch Nimrod giúp giải thoát các nhân viên Đại sứ quán Iran tại London sau 6 ngày bị một nhóm khủng bố Ả Rập bắt làm con tin vào tháng 4.1980. Các biệt kích bắn hạ 5 tên khủng bố, bắt giữ 1 tên mà hầu như không chịu thương vong nặng nề nào. Tất cả con tin đều được giải thoát an toàn. Toàn bộ chiến dịch đã được các đài truyền hình quay và phát lại, góp phần đưa SAS trở thành một huyền thoại.

Để tích lũy thêm kinh nghiệm, hiện SAS vẫn thường xuyên gửi người tới những nước xảy ra các vụ bắt giữ con tin để thu thập dữ liệu, phân tích hoặc cố vấn cho chính quyền sở tại.

Huấn luyện khắc nghiệt

Cơ sở huấn luyện của SAS ở thành phố miền tây Hereford. Theo GS Clayton, học viên được đào tạo các kỹ năng cần thiết để hành động chớp nhoáng và hạn chế tối thiểu thương vong. Trung đoàn 22 của SAS được chia thành 4 biệt đội A, B, D và G với khoảng 90 thành viên/đội. Tại mỗi biệt đội lại chia thành các đơn vị chuyên sử dụng xe mô tô phân khối lớn, nhảy dù hoặc hành động ở địa hình biển đảo, sông ngòi, đồi núi.

Chương trình huấn luyện chia thành nhiều chủ đề khác nhau như: Special Project Teams chuyên chống buôn lậu ma túy hay truy lùng các tội phạm chiến tranh; Counter Revolutionary Wing chuyên chống khủng bố. Nhóm này lại được chia thành 2 phần riêng biệt là Body Guard nhằm bảo vệ an toàn cho cộng đồng, đặc biệt là Hoàng gia Anh và Close Quarter Battle giúp huấn luyện khả năng hành động bên trong các tòa nhà.

Thành viên của SAS là các sĩ quan và binh sĩ trong quân đội Anh, được tuyển chọn gắt gao qua quá trình huấn luyện và kiểm tra cực kỳ khắc nghiệt. Phần lớn các “siêu chiến binh” ở độ tuổi 28-32. Để được chính thức trở thành thành viên của SAS, các ứng viên phải chứng tỏ được sự kiên nhẫn, thể lực và kỹ năng chiến đấu. Trong phần huấn luyện thể lực, ở bài kiểm tra cuối cùng, các biệt kích tương lai phải vượt qua 64 km đường nhiều chướng ngại vật với ba lô nặng 25 kg và một khẩu súng trường trong thời gian dưới 20 giờ. Tổng cộng trong giai đoạn huấn luyện thể lực, các thí sinh phải đi bộ hơn 445 km trong vòng 4 tuần. Sau đó, họ phải “lăn lê, bò trườn” trong vòng 6 tuần tại các khu rừng nhiệt đới ở châu Á để rèn luyện kỹ năng sống sót.

Một chương trình “khó nuốt” không kém là 4 tuần tập huấn Survival, Evasion, Resistance and Extraction (SERE, tạm dịch “sống sót, lẩn tránh, cầm cự và rút lui”). Trong đó, các thí sinh sẽ bị thẩm vấn trong suốt 24 giờ mà không được hé lộ bất cứ điều gì ngoài tên, ngày sinh, cấp bậc.

Nguyễn Ngọc Lan Chi

Bình luận

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết