Nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến vấn đề này, Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu công trình nghiên cứu về luật quốc tế và chủ quyền  trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của TS Nguyễn Hồng Thao. Nội dung chính đăng tải được trích từ cuốn sách Việt Nam và các  tranh  chấp  biển  trong  biển Đông của TS Nguyễn Hồng Thao.

Cuốn sách này đã được tặng Giải thưởng quốc tế INDEMER năm 2000 của Viện Luật kinh tế biển Công quốc Monaco cho các tác phẩm luật viết bằng tiếng Pháp xuất sắc nhất trong 1996-2000. Bản dịch  tiếng Việt do tác giả thực hiện, bám  sát  trung  thành bản tiếng Pháp có cập nhật một số sự kiện mới.

Kỳ 1 - Cuộc tranh chấp phức tạp

Tranh  chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo Paracels và Spratlys  (Hoàng Sa và Trường Sa  theo tên  gọi VN, Tây  Sa  và Nam  Sa  theo  tên  gọi Trung Quốc) nằm giữa biển Đông đã  tồn  tại từ  trăm năm nay. Đó  là những  tranh chấp  lâu đời nhất giữa nhiều nước cùng  yêu  sách  chủ quyền trên các đảo, một cuộc tranh chấp kéo dài cho đến tận ngày hôm nay mà chưa đạt được bất kỳ một giải pháp pháp lý bền vững  nào.

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Kỳ 1) - ảnh 1
Đảo Trường Sa Lớn - Ảnh: Đỗ Hùng 

Nó còn phức tạp hơn với nghĩa là tranh chấp lúc thì bùng lên gay gắt, lúc lại lắng xuống với những thay đổi phức tạp từ phía các bên có can dự trực tiếpvào cuộc tranh chấp. Lúc đầu, cuộc tranh chấp chỉ  liên quan trực tiếp đến các đảo. Do vị  trí địa  lý, các đảo này cho phép quốc  gia  ven  biển chiếm hữu  chúng không chỉ quyền kiểm soát thông thương hàng hóa trong  biển Đông mà  còn quyền sử dụng chúng như các căn cứ hải quân ban đầu nhằm mục đích quốc phòng.

Cuộc đua tranh có quy mô và sắc thái khác từ sự phát triển  nhanh chóng  gần đây của Luật  Biển quốc tế  và khả năng phát  hiện  được những mỏ dầu có thể khai thác được nằm dưới đáy biển của hai quần đảo. Công ước của Liên Hiệp Quốc về  Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 có hiệu lực từ năm 1994 cho phép  các quốc gia ven biển có quyền mở  rộng lãnh hải 12 hải  lý, vùng đặc quyền kinh  tế 200 hải  lý và thềm lục địa.

Sự phát triển của luật biển quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển như khả năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên từ  biển: dầu mỏ, nguồn lợi  thủy sản, khoáng sản, nhưng cũng làm nảy sinh vấn đề phân định vùng biển và thềm lục địa giữa các quốc gia có vùng biển chồng lấn. Giải quyết vấn đề phân định biển luôn gắn  liền  với vấn đề tranh chấp lãnh thổ, đảo.

Theo quy định của UNCLOS 1982,  các đảo, đá  hoặc có  thể  có  vùng  lãnh  hải  12  hải  lý,  vùng  đặc  quyền kinh  tế 200 hải  lý và  thềm  lục địa hoặc chỉ có vùng lãnh hải 12 hải  lý, căn cứ vào một số điều kiện nhất định. 

Việc  Công  ước  quy  định  không  rõ  ràng  như vậy  càng  làm  tình  hình  tranh  chấp  chủ  quyền  trên hai quần đảo thêm phức tạp. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo có quyền  có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  riêng, thì với vị  trí nằm giữa biển, hai quần đảo sẽ đem lại cho quốc gia sở hữu quyền kiểm soát hầu hết biển Đông.

Nó cũng đưa đến bức tranh chồng lấn yêu  sách của các  nước trong biển Đông đòi hỏi phải giải quyết. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo chỉ có quyền có  lãnh hải 12 hải  lý  thì vùng biển của  các quần đảo  này sẽ không chồng lấn  lên  thềm lục  địa và vùng đặc  quyền kinh tế của các nước, giảm bớt tranh chấp.

Trên  thực  tế,  tranh  chấp  phức tạp  thêm chính  là do nguyện vọng của các quốc gia ven biển muốn cho một số đảo, đá, bãi ngầm ngoài khơi không có người ở này được hưởng quy chế pháp  lý đầy đủ  của một đảo. Đúng là luật biển quốc tế mới cho phép các quốc gia ven biển được yêu sách một vùng thềm lục địa và một vùng đặc quyền về kinh tế rộng hai  trăm hải  lý xung quanh các đảo nổi thường xuyên  khi  thủy  triều  lên.  Nhưng  thực tế vẫn có các đảo không thích hợp cho con người đến ở hoặc  cho một  đời  sống  kinh  tế  riêng  có  thể  đòi  hỏi cùng một  quy  chế  như  trên ([1]).  Luật  biển  hiện  đại  đó làm tăng thêm giá trị địa chiến lược của hai quần đảo và  các  bên  tranh  chấp  chính  là  về  vai  trò  địa  chiến lược mới đó của hai quần đảo.

Các  tranh chấp  trên biển Đông, ngoài ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ, lợi ích chiến lược còn  là  quyền sở hữu và khai thác tài  nguyên,  đặc biệt  là  tài  nguyên dầu mỏ. Tranh chấp chủ quyền các đảo và vùng biển không dễ dàng được  giải  quyết  vì  liên  quan  không  chỉ  yếu  tố  luật pháp mà còn cả về lịch sử, ý chí dân tộc và kinh tế.

Mục tiêu của cuộc tranh chấp dai dẳng giờ đây không chỉ là các đảo chính mà chính là các vùng biển rộng lớn bao quanh chúng nhằm kiểm soát được toàn bộ hoặc chỉ một phần biển này. Hoàng Sa, Trường Sa do CHXHCN Việt Nam xác lập chủ quyền; CHND Trung Hoa, lãnh thổ Đài Loan cùng yêu cầu tương tự. Riêng Trường Sa, Philippines chỉ  vào cuộc từ năm 1956, Malaysia từ năm 1979 và Brunei yêu sách một phần nhỏ từ năm 1993. 

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Xem Điều 121, Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 94.

>> Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

Bình luận