Nhà chùa còn lưu giữ được nhiều pho tượng cổ  /// Hoàng Phương
Nhà chùa còn lưu giữ được nhiều pho tượng cổ Hoàng Phương
Thiên Trường cổ tự truyền thuyết là một ngôi chùa do trẻ mục đồng (chăn trâu) lập. Tài liệu lưu giữ tại chùa cho biết chùa được khai sơn cách đây 250 năm.
Ở đây, ngoài những pho tượng cổ xưa còn có nhiều huyền thoại ly kỳ hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian.
Huyền thoại “thầy da lươn”
Tọa lạc ở ấp Bình Trinh (xã Đồng Sơn, H.Gò Công Tây, Tiền Giang), phong cảnh chùa Thiên Trường khá u tịch. Trước sân chùa có ao sen rộng, nhiều pho tượng bố trí ngoài sân xen lẫn với cỏ cây hoa lá. Truyền thuyết dân gian kể rằng thuở xưa, vùng này còn ao đầm, hoang sơ, bọn mục đồng thường dắt trâu đến đầm lầy ăn cỏ. Nhân lúc rảnh rỗi, họ tụ tập trên gò đất bày trò nặn tượng Phật bằng đất sét chơi rồi đem thả xuống ao cho Phật tắm. Lạ thay các tượng ấy lại nổi trên mặt nước. Đám mục đồng hốt hoảng vớt tượng lên rồi che một am tranh để thờ. Sau đó có một nhà sư không biết từ phương nào đến, thấy am tranh đơn sơ, hiu quạnh lại thờ Phật bèn ở lại tu hành với tâm nguyện dựng một kiểng chùa ở đây.
Ngày qua tháng lại, vị sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn, dọn một khu đất lập chùa, xé dây đai trộn đất sét tiếp tục nặn tượng Phật. Người địa phương không biết danh tính, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và đặt tên chùa là chùa Da Lươn...
Tuy nhiên, theo sư Minh Trí (92 tuổi, thế danh Nguyễn Ngọc Ẩn) ở cách chùa Thiên Trường hơn trăm mét, vào những năm cuối thế kỷ 18, từ khu vực đầm Bà Dơn đến miễu Tàu Ô, Rạch Lá, Rạch Kiến, Rạch Đào và Rạch Tràm qua Tân Trụ (nay thuộc Long An) toàn là rừng bụi, đầy rẫy cây chà là và nhiều thú dữ. Bấy giờ có vị du tăng hiệu là Gia Lương, pháp danh Bửu Huệ thiền sư, đi ngang qua đầm Bà Dơn thấy mục đồng nắn cốt Phật bằng đất thả dưới đầm ao mà nổi nên vớt lên đem đến bìa rừng chặt cây bẻ lá cất thành cái am thờ. Nhờ đám trẻ chăn trâu góp công bứng cây, phá rừng, biến am tranh thành một ngôi chùa nhỏ. Sau đó, thầy Bửu Huệ viên tịch trong tư thế ngồi, người dân cho là ngài tu hành đắc đạo và đã thành Phật, nên lập tháp thờ rồi bảo nhau cúng ruộng đất cho chùa làm hương hỏa, lấy hiệu chùa là Gia Lương.
Chưa rõ thời gian nào chùa Gia Lương đổi thành Thiên Trường, nhưng vào khoảng năm 1789, ngôi chùa đã xây dựng thành khoảnh 3 căn 2 chái, vách ván bổ kho, lợp ngói. Năm Gia Long thứ ba (1804), chùa Thiên Trường được ông Huỳnh Đình Chung cất thêm chánh điện lợp ngói âm dương, ngăn vách ván thành 2 tăng phòng. Qua nhiều đời trụ trì, chùa Thiên Trường trở nên nổi tiếng, tín đồ rất đông, các vị địa chủ trong vùng cúng thêm ruộng đất, là một trong những ngôi chùa giàu có ở tổng Hòa Đồng (nay thuộc H.Gò Công Tây).
Lưu giữ nhiều tượng xưa
Vào những năm đầu thế kỷ 20, chùa Thiên Trường do Hòa thượng Tâm Trí làm trụ trì. Mấy chục năm sau, vì dính líu với Thiên địa hội và cổ súy phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trong giới tăng ni, phật tử của sư Thiện Chiếu nên vị hòa thượng này bị Tri phủ sở tại trục xuất ra khỏi chùa và bị chính quyền thực dân Pháp bắt giữ.
Theo sư Minh Trí thì Hòa thượng Tâm Trí là người có công lớn trong việc tôn tạo cảnh quan chùa Thiên Trường, như trang trí hoành phi, liễn đối, sửa sang tượng thờ... Ông là người rất khéo tay, tượng gỗ ở chùa đều do ông tự mình thếp vàng. Bấy giờ ở địa phương có ông Xã Hợi, được dân làng gọi là “tài công Hợi”, một thợ chạm rất giỏi nghề tạc tượng. Hầu hết các tượng gỗ ở chùa Thiên Trường đều do ông thợ chạm này tạo tác đưa vào thờ. Thời chiến tranh, các pho tượng này được đem gởi ở chùa Liên Trì một thời gian. Những tác phẩm của nghệ nhân “tài công Hợi” hiện còn lưu giữ tại chùa gồm tượng Di đà, Hộ pháp, ông Tiêu, ông Thiện, ông Ác… đều bằng gỗ mít. Một vài tượng đã bị mối mọt gặm nhấm loang lổ, các sư thầy phải lấy xi măng trám lại.
Nhắc chuyện xưa, sư Minh Trí cho biết hồi 9 năm kháng Pháp, chùa Thiên Trường có một vị sư làm cách mạng, đó là sư Pháp Hoa, thầy của ông. Sau khi tu hành ở chùa Thiên Trường một thời gian, đến năm 1941 ngài treo áo ra chợ Dinh dạy học trò. Đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngài tham gia Phật giáo cứu quốc tỉnh Gò Công. Khi giặc quay lại tái chiếm, ngài trở về thu huê lợi ruộng đất của chùa được 1.700 giạ lúa để nuôi kháng chiến. Sư Minh Trí kể: “Hồi đó có phong trào “tuần lễ đồng”, Việt Minh kêu gọi người dân hiến đồng để đúc đạn. Thầy về chùa Thiên Trường chỉ thị cho tôi đem 19 bộ lư thau, 1 bộ lư cổ bằng đồng, 1 cái lư hương bằng thau và cái đại hồng chung của chùa đem hiến cho kháng chiến”.

Ngọc Phan - Hoàng Phương

Bình luận