Có người hướng tận đến những vì sao, có người từ cơ hàn bước lên họa đàn thế giới, có người sống gần trọn đời nơi đất khách mà lòng chưa một ngày không nhớ quê hương... Cuộc đời và hành trình của họ để lại những dấu ấn Việt rất riêng giữa Paris hoa lệ.
Tìm những vì sao
Nhiều năm đã qua, tôi vẫn nhớ in bóng dáng nhà thiên văn Nguyễn Quang Riệu đi trước mình trong dãy hành lang cổ kính của Đài thiên văn Paris. Ông đưa tôi vào thư viện, kể về vị vua mặt trời Louis XIV, về những nhà thiên văn từng làm việc nơi đây và đường kinh tuyến chạy qua tòa nhà. Giữa không gian lưu dấu hơn ba thế kỷ thiên văn học Pháp, hình ảnh ấy dậy lên trong tôi một tự hào Việt Nam, bởi phía sau bước chân ông là hành trình thật dài: Từ Hải Phòng đến Paris, rồi từ Paris hướng đến những vì sao trên dải ngân hà.

Chuyến về thăm cơ quan cũ - Đài thiên văn Paris - của GS Nguyễn Quang Riệu (thứ hai từ trái sang)
ảnh: Thiên Ý
Nguyễn Quang Riệu sinh ngày 4.1.1932 tại Hải Phòng. Năm 1950, ông sang Pháp, bắt đầu một hành trình có lẽ chính ông cũng khó hình dung sẽ đưa mình đến tận những vì sao. Giữa một thế kỷ đầy biến động, Nguyễn Quang Riệu chọn lĩnh vực khi ấy còn thực xa lạ với người Việt: Thiên văn vô tuyến. Năm 1966, ông bắt đầu làm việc tại Đài thiên văn Paris, từ đó gắn phần quan trọng trong sự nghiệp khoa học với việc nghiên cứu thiên hà, các nguồn vô tuyến và những phân tử tồn tại trong môi trường giữa các vì sao.
Theo ông qua những căn phòng của đài thiên văn, tôi cảm nhận rõ hơn nơi một nhà khoa học Việt Nam đã làm việc trọn sự nghiệp của mình. Đài thiên văn Paris được thành lập năm 1667 dưới triều Louis XIV, tòa nhà do kiến trúc sư Claude Perrault thiết kế. Nguyễn Quang Riệu đưa tôi vào thư viện, nơi những tài liệu, hình ảnh và dấu tích cũ kéo câu chuyện ngược về buổi đầu của khoa học thiên văn Pháp. Đặc biệt nhất là đường kinh tuyến trong đài thiên văn do Jacques Cassini hoàn thiện vào thế kỷ 18. Đường thẳng bằng đồng gắn trên những phiến đá cẩm thạch không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn là một dụng cụ thiên văn.

Tác phẩm Phong cảnh bất khuất với “sợi chỉ đỏ” - đường Trường Sơn trong mùa hè đỏ lửa 1972
ảnh: tư liệu
Nghe Nguyễn Quang Riệu giải thích, cảm giác lịch sử khoa học không còn nằm trong những trang sách mà hiện hữu ngay dưới chân mình. Đài thiên văn cũng là điểm gốc của kinh tuyến Paris, từng giữ vai trò quan trọng trong trắc địa và lập bản đồ nước Pháp trước khi Greenwich được quốc tế chọn làm kinh tuyến gốc năm 1884. Một đường thẳng chạy qua Paris, nối mặt đất với những quan sát bầu trời, khiến tôi liên tưởng đến một hành trình khác cũng thật dài: từ Hải Phòng đến Paris của Nguyễn Quang Riệu.
Trong sự nghiệp thiên văn vô tuyến, ông có nhiều nghiên cứu về các nguồn vô tuyến và môi trường giữa các vì sao. Nhưng ý nghĩa của Nguyễn Quang Riệu đối với tôi còn nằm ở hình ảnh một người Việt có thể bước rất sâu vào một ngành khoa học đặc thù với vị trí giám đốc nghiên cứu trong một trung tâm thiên văn hàng đầu của Pháp. Ông đồng thời nhiều lần trở về, tham gia những hoạt động kết nối thiên văn học Việt Nam với cộng đồng khoa học quốc tế.

Lê Bá Đảng lúc sinh thời trong khu vườn trên tầng cao tại tư gia ở thủ đô Paris
ảnh: Thiên Ý
Paris được gọi là kinh đô ánh sáng, nó còn là ánh sáng của tri thức, của những người dành cả đời tìm hiểu những điều ngoài tầm mắt. Trong những người từng làm công việc danh giá ấy ở Paris, có một người sinh ra tại Hải Phòng.
Trả phận đời bằng hội họa đỉnh cao
Nếu Nguyễn Quang Riệu bước vào Paris bằng khoa học, Lê Bá Đảng lại lạc vào con đường dữ dội hơn. Gặp ông khi đã đi gần trọn cuộc đời nghệ thuật, thành danh với thế giới, thật khó hình dung ông từng khởi đầu phận người bơ vơ đất Pháp với: Không nghề nghiệp, không ngoại ngữ, không học vấn, không nhà cửa, không người thân…; chỉ có đôi bàn tay trắng.

Nụ cười Lê Bá Đảng với sự viên mãn, thành danh trên hành trình nghệ thuật
ảnh: Thiên Ý
Lê Bá Đảng sinh năm 1921 tại Bích La Đông, Quảng Trị. Khi 18 tuổi, ông sang Pháp làm lính thợ tại xưởng vũ khí, bị quân Đức bắt, trải qua tù đày rồi lưu lạc xuống miền Nam. Từ năm 1942 - 1948, ông vừa kiếm sống vừa học tại Trường Mỹ thuật Toulouse, sau đó tìm đến Paris theo đuổi con đường nghệ thuật.
Kinh đô khi ấy không hề sáng với một họa sĩ người Việt. Nhớ lại thời gian khó, Lê Bá Đảng kể: "Tôi nghèo nên bị nhiều người xem thường. Tiền không đủ ăn, không đủ mặc, hai vợ chồng phải lấy những phần vải còn lành từ quần áo rách, cắt ra khâu thành chiếc áo, nom có vẻ thiết kế, dị dị, để mặc khi dự những dịp trang trọng. Nhưng cả nhà chỉ có một chiếc áo, chồng mặc đi thì vợ ở nhà, vợ cần dùng đến thì chồng không đi".

Chất liệu qua bàn tay của Lê Bá Đảng đều trở thành tác phẩm nghệ thuật
ảnh: Thiên Ý
Câu chuyện chiếc áo vải vụn ấy giải thích phần nào con người Lê Bá Đảng, đó là lòng tự trọng và ý chí bước qua nghịch cảnh. Nhiều năm sau, khi đã thành công trong nghệ thuật, ông mua nhà ở Paris, ở Cannes làm nơi tụ tập bạn bè, ăn uống, vui chơi. Sau những ngày từng bị coi thường, ông muốn cho người khác thấy mình cũng "biết chơi". Đặt cạnh chiếc áo chắp vá năm nào, cái "chất chơi" ấy là lời đáp của một người từng ở dưới đáy cơ hàn, nay đã bước lên đài vinh quang.
Paris những năm 1960 là một trong những trung tâm của phong trào trí thức phản đối chiến tranh Việt Nam. Ngày 23.3.1968, "Ngày của giới trí thức vì Việt Nam" (Journée des intellectuels pour le Vietnam) được tổ chức tại Parc des expositions, Porte de Versailles, Paris, nhằm tập hợp giới trí thức lên tiếng về cuộc chiến. Lê Bá Đảng cũng hiện diện trong dòng chảy ấy. Từ năm 1966, ông đã cùng giới trí thức, nghệ sĩ tại Pháp tham gia kêu gọi yêu cầu Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Đáng chú ý, văn bản phản chiến còn lưu chữ ký của Lê Bá Đảng bên cạnh những tên tuổi lớn của văn hóa Pháp và thế giới như Pablo Picasso, Louis Aragon…

Vợ chồng cụ Đào Khiết và Võ Hảo cùng tình yêu xuyên thế kỷ
ảnh: Thiên Ý
Trong sáng tác, hình ảnh Việt Nam và thời cuộc cũng là đề tài ông đưa vào hội họa. Bảo tàng Cernuschi của thành phố Paris hiện lưu giữ tác phẩm Paysage indomptable - Phong cảnh bất khuất, sáng tác tại Cannes năm 1972. Trong tác phẩm, một vệt đỏ xuyên qua những khối đen dữ dội, được diễn giải đó là đường mòn Hồ Chí Minh. Tác phẩm được ông thực hiện giữa lúc chiến tranh Việt Nam đang khốc liệt.
Tôi được ông lái xe đưa đến xưởng vẽ một buổi sớm, khi Paris chưa thức giấc, cũng là thói quen làm việc bao năm qua. Ông lần giở những tác phẩm, từ hạt gạo Trường Sơn, từ loạt tranh mèo giúp ông sống sót những ngày đầu khi chân ướt chân ráo đến Paris hoa lệ, nhưng ấn tượng hơn cả là các tác phẩm định hình nên một Lebadang Space - Không gian Lê Bá Đảng. Trong không gian ấy, hội họa thể hiện trên chất liệu giấy được cắt, xé, bồi, ép nổi thành núi, thung lũng và những miền tưởng tượng, hòa cùng màu sắc, đưa nét họa tiệm cận với điêu khắc. Từng tác phẩm là từng thế giới riêng Lê Bá Đảng tạo ra cho chính mình. Và trong đó, chữ ký mang bóng hình của gia đình ba người gồm ông, vợ và con trai, luôn là một điểm nhấn không thể thiếu.

Ông Đào Khiết và các con tham gia các hoạt động cùng kiều bào Việt ở Paris
ảnh: tư liệu
Năm 1994, nước Pháp trao cho Lê Bá Đảng tước Hiệp sĩ Nghệ thuật và Văn chương. Sau khi ông qua đời tại Paris năm 2015, bà Myshu Nguyễn - Lê Bá Đảng hiến tặng Bảo tàng Cernuschi một bộ tác phẩm của chồng; bảo tàng sau đó tổ chức trưng bày về bộ sưu tập này. Câu chuyện từ người lính thợ vô danh đến một nghệ sĩ được vinh danh, cuộc đời Lê Bá Đảng tự thân đã là một tác phẩm về khả năng con người vượt lên số phận.
Một đời nhớ nước
Người Việt thứ ba tôi gặp ở Paris là cụ Đào Khiết, khi ấy ông đã ngoài trăm tuổi. Biết tôi từ Việt Nam sang, khi vừa gặp, ông đang ngồi tựa trên thành giường, ánh mắt bừng sáng, nói ngay sau câu chào: "Từ ngày rời quê hương ra đi, không lúc nào tôi không nhớ nước".
Cụ Đào Khiết sinh năm 1910, quê Tiền Hải, Thái Bình (nay là Hưng Yên). Năm 1939 ông sang Pháp giữa những biến động của Thế chiến thứ hai. Sau 45 ngày lênh đênh, đến 22.10.1939 ông đặt chân tới Pháp. Năm 1944, ông bị thương, vết thương nhiễm trùng nặng, người mẹ nuôi Pháp tìm cách xin cho ông xuất ngũ. Đào Khiết ở lại Pháp, học tiếng, học nghề, từng bước gây dựng cuộc sống.

Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lúc đương nhiệm ghé thăm cụ Đào Khiết
ảnh: tư liệu
Năm 1954, ông tiếp quản một hiệu sách Việt ở khu Latin. Ông đặt tên cửa hiệu là Thái Bình, như một cách gợi nhớ nơi chốn ông đã ra đi. Giữa Paris, sau 15 năm xa xứ, một người đàn ông lấy tên miền quê mình sinh ra đặt lên cửa hiệu có lẽ đã nói được nhiều hơn mọi lời về nỗi nhớ quê. Tiệm sách trở thành nơi bán sách, báo, đĩa hát tiếng Việt, một địa chỉ đỏ cho những người xa xứ tìm lại chữ viết và tiếng nói quê nhà.
Ở đó ông gặp bà Võ Hảo, cô gái 21 tuổi quê Thủ Đức vừa sang Pháp. Ông kể lại thời… thả thính bà bằng giọng đầy hóm hỉnh: "Tôi biết bà này nhớ nhà, cứ thấy bóng dáng đến tiệm sách là tôi lại mở cải lương, vì bà ấy người miền Nam, nghe là hết muốn về". Họ thành thân năm 1956 và có bốn người con. Ngày gặp hai ông bà, cụ bà Võ Hảo mạnh khỏe, chăm sóc chồng từng li từng tí, từ cái vuốt má nựng: Uống nước đi cưng! Thỉnh thoảng lại xoa đầu buông lời khen: Thấy dễ thương hông! Nghe thật cảm động và ngưỡng mộ tình già của cụ ông cụ bà. Mỗi lần bà buông lời âu yếm, ông hài hước đùa lại: "Nhất bà đấy, được mấy ai có cái đầu hơn trăm tuổi để xoa như bà đâu".
Trong hoạt động cộng đồng người Việt tại Pháp, cụ Đào Khiết từng là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp, Chủ tịch sáng lập Hội Thương gia Việt Nam tại Pháp. Đây là một bộ phận trong mạng lưới các tổ chức Việt kiều hướng về đất nước, bên cạnh giới trí thức, công nhân, sinh viên và những người lao động. Những năm chiến tranh sau đó, đặc biệt khi Hội nghị Paris về Việt Nam bắt đầu từ năm 1968, cộng đồng Việt kiều tại Pháp trở thành một hậu phương trong lòng nước Pháp, tham gia đón tiếp, hỗ trợ các phái đoàn Việt Nam. Giới thương gia cũng góp mặt trong mạng lưới ấy bằng điều kiện kinh tế, cơ sở làm ăn và khả năng tập hợp cộng đồng. Với cụ Đào Khiết, sự gắn bó ấy kéo dài qua nhiều thập niên, từ những năm chiến tranh đến khi đất nước hòa bình, như cách để người đàn ông sống gần trọn đời ở Pháp vẫn giữ sợi dây nối mình với quê nhà.

Cụ Đào Khiết thời trẻ trong không gian hiệu sách Thái Bình ở Paris
ảnh: tư liệu
Ba phận người khác biệt trong cộng đồng người Việt thành danh ở Paris. Nguyễn Quang Riệu đi vào thế giới của những vì sao và tạo dựng vị trí trong một ngành khoa học rất đặc thù. Lê Bá Đảng đi từ thân phận lính thợ, cơ hàn đến một đời nghệ thuật được nước Pháp ghi nhận. Đào Khiết chọn một cuộc đời bình dị, lập nghiệp, dựng gia đình giữa Paris nhưng giữ tên Thái Bình trên cửa hiệu và quê hương trong nỗi nhớ.
Paris đã cho họ những con đường khác nhau để sống một đời. Đi qua câu chuyện của Nguyễn Quang Riệu, Lê Bá Đảng và Đào Khiết, tôi nhận ra dấu ấn người Việt giữa kinh đô ánh sáng không chỉ nằm ở danh hiệu hay thành tựu. Sau gần một đời xa xứ, người ta vẫn không ngừng nói về nơi mình sinh ra bằng hai tiếng: quê hương, với ánh mắt long lanh ngấn nước.
Bình luận (0)