Vụ thứ hai khởi kiện để yêu cầu hủy bỏ các nghị quyết (NQ) văn bản như đã nói ở kỳ trước, tòa thụ lý ngày 9.11.2006. Ngày 28.3.2007, tòa án mở phiên sơ thẩm đưa vụ kiện thứ hai (thụ lý sau vụ thứ nhất 50 ngày) ra xét xử trước. Vì hai vụ kiện có mối liên quan nội tại sâu xa nên người ta có thể đặt dấu hỏi liệu đây có phải là một thủ thuật và trò chơi tố tụng hiểm hóc?
Kết quả: UCI thua kiện. Tòa bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận giá trị pháp lý của 3 NQ văn bản thay cho phiên họp. Tuyên buộc TS Hảo phải bàn giao công việc có liên quan đến chức danh Chủ tịch HĐQT cho ông Jaya J.B Tan, Tổng giám đốc cho ông Paul Wong. Đây là một bản án có quá nhiều vi phạm, sai trái và thiên lệch. Chúng tôi xin phân tích dưới đây theo thứ tự các vấn đề nêu lên trong bản án.
Trước hết về hình thức: Theo quy định của điều lệ, mọi NQ đều ra đời từ cuộc họp; NQ là kết quả của cuộc họp. Các tự điển tiếng Việt và Hán Việt đều định nghĩa NQ là quyết định của hội nghị về một vấn đề gì. Rõ ràng cuộc họp là điều kiện bắt buộc để ra NQ, kể cả NQ biểu quyết bằng hình thức văn bản. Hình thức biểu quyết chỉ xác định tên gọi của NQ, không phải là căn cứ duy nhất để xác định giá trị pháp lý của NQ về mặt hình thức (như Tòa sơ thẩm đã làm).
Ngoài cách thức biểu quyết, còn phải đáp ứng một số thể thức, trình tự quy định rõ tại điều 8.2 (f) sửa đổi và điều 8.2 (b) của điều lệ thì một văn bản mới được xem là NQ. Các văn bản do RIL đưa ra xuất phát từ hành vi đơn phương, dù được SGC tán thành sau đó chỉ là dạng văn bản khác, không phải là NQ của HĐQT. Gọi là NQ văn bản thay cho phiên họp là cách nói lập lờ đánh lận. Do vậy về hình thức không thể công nhận được.
Về nội dung: Trong thư đề cử và chỉ định tổng giám đốc cũng như NQ văn bản ngày 10.8.2006 phê chuẩn việc chỉ định ông Paul Wong vào vị trí tổng giám đốc, Công ty RIL đã nhân danh "là đại diện chính của bên nước ngoài". Việc làm này là trái với Giấy phép đầu tư điều chỉnh do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ký ngày 22.8.1997 và ngày 3.10.2002. Tại các giấy phép đầu tư điều chỉnh, tư cách đại diện của Pengkalen đã bị bãi bỏ.
Chính ông Jaya J.B Tan là người đưa ra đề nghị bãi bỏ tư cách đại diện chính của Pengkalen (sau này là RIL kế thừa) tại phiên họp HĐQT đầu tiên tổ chức vào ngày 22.8.1994 và khẳng định rằng bên nước ngoài gồm Pengkalen và UCI độc lập với nhau, không ai quan trọng hơn ai. RIL cũng không thể dựa vào bất cứ điều khoản nào trong Hợp đồng hoặc Điều lệ liên doanh để tự cho phép mình có thẩm quyền rút lại đề cử và đề cử, bởi lẽ Giấy phép đầu tư đã nêu rõ mọi điều khoản của Hợp đồng và Điều lệ công ty liên doanh phải được hiểu theo quy định của Giấy phép đầu tư.
Ngoài ra, các NQ văn bản của RIL đưa ra và SGC biểu quyết tán thành lập tức vi phạm một cam kết khác đối với các ngân hàng cho vay. Trong các hợp đồng tín dụng về khoản vay 31 triệu USD đã ràng buộc LD GISH không được thay đổi chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc trong vòng 5 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng. Đại diện SGC và bản thân ông Jaya J.B Tan hoặc đại diện nhân danh đã long trọng ký vào các hợp đồng này.
Như vậy, nội dung các NQ văn bản đã vi phạm Giấy phép đầu tư và các hợp đồng ký kết với ngân hàng cho vay vì vậy cần phải hủy bỏ.
Về thủ tục: Xét các tài liệu mà RIL trưng dẫn để làm căn cứ ra các NQ (Nội dung NQ, Đơn khởi kiện phản tố, Báo cáo về thay đổi nhân sự gửi Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư TP.HCM, Chủ tịch UBND TP.HCM do ông Paul Wong nhân danh Tổng giám đốc mới ký ngày 2.11.2006, lập luận của RIL tại tòa,...) cho thấy RIL đã hoàn toàn căn cứ vào điều 8.2(f) Điều lệ liên doanh đã bị sửa đổi.
Cần phải nói rõ thêm lịch sử của điều khoản đặc biệt này. Khi hồ sơ dự án của liên doanh đệ trình để xin cấp Giấy phép đầu tư, nhận thấy đây là một điều khoản mập mờ, dễ dàng bị lạm dụng (như kiểu RIL đã làm), nên trong Công văn 983/UB-TB ngày 30.5.1994, UB Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư đã yêu cầu sửa đổi. Ngày 9.6.1994, đại diện các bên (trong đó có đại diện Pengkalen là ông Jaya J.B Tan) đã ký vào Tờ giải trình xin sửa đổi lại.
Tờ giải trình này "được xem như là một phần không thể tách rời của Hợp đồng liên doanh và Điều lệ liên doanh". Điều 8.2(f) sửa đổi lại chỉ ngắn gọn như sau: "Bất kỳ một nghị quyết nào bằng văn bản, hoặc bằng cable, telex hay telefax của HĐQT sẽ phải tuân theo các thủ tục áp dụng của điều 8.2(b)". Như vậy mọi NQ, kể cả NQ văn bản, đều áp dụng thủ tục chung quy định tại điều 8.2(b). Và các NQ văn bản do RIL đưa ra hoàn toàn không tuân theo các thủ tục quy định tại điều này. Tòa sơ thẩm cũng áp dụng điều 8.2 (f) đã bị sửa đổi để xét xử là vi phạm nghiêm trọng.
Do vậy, có thể khẳng định hình thức, nội dung, thủ tục (bao gồm cả thẩm quyền và thể thức) của các nghị quyết văn bản do RIL đưa ra và được SGC tán thành đã vi phạm Giấy phép đầu tư, Hợp đồng và Điều lệ liên doanh, vi phạm các hợp đồng tín dụng nên không có giá trị pháp lý, cần phải hủy bỏ.
Với những tình tiết như chúng tôi đã phân tích, xét ra đã đủ căn cứ để đề nghị hủy án sơ thẩm. Tuy nhiên do Tòa sơ thẩm đã nhận định thiên lệch về vấn đề nguyên tắc biểu quyết, gây ra nhiều tranh cãi nên chúng tôi xin phân tích thêm vấn đề này.
Theo Hợp đồng và Điều lệ liên doanh, những quyết định quan trọng (sửa đổi hoặc bổ sung điều lệ; tăng vốn pháp định; bổ nhiệm thay thế và miễn nhiệm Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, Phó TGĐ, Kế toán trưởng,...), HĐQT biểu quyết theo nguyên tắc nhất trí quy định tại điều 8.3 (1). Các quyết định khác không quan trọng thì biểu quyết đa số 2/3 quy định tại điều 8.3 (2).
Tuy nhiên tại điều 8.3 (2) Điều lệ (tương tự điều 14.2.2 Hợp đồng liên doanh) có dự liệu trường hợp luật thay đổi. Chính đoạn văn dự liệu viết không rõ ràng đã được Tòa sơ thẩm vận dụng một cách thiên lệch và gây ra nhiều tranh cãi. Nguyên văn điều 8.3 (2) trong điều lệ như sau: "Tất cả các quyết định khác của HĐQT sẽ thực hiện theo biểu quyết đa số 2/3 của các thành viên tham dự phù hợp với luật pháp Việt Nam. Mọi sự thay đổi nào về luật liên quan đến quyền hạn của HĐQT theo đó cho phép lấy quyết định đa số trong tương lai sẽ thay thế các điều khoản nói trên".
RIL cho rằng, áp dụng điều 8.3 (2) nguyên tắc biểu quyết nhất trí đã tự động được thay thế bằng nguyên tắc đa số 75% vốn góp theo điều 52 Luật DN 2005. Các NQ văn bản do RIL (chiếm tỷ lệ 51% vốn góp) đưa ra, được bên Việt Nam là SGC (chiếm 30%) tán thành nên đã đủ túc số để thông qua theo quy định của luật.
Tòa sơ thẩm chấp thuận lý lẽ của RIL và bản án đã lập luận rằng: căn cứ vào bố cục điều 8.3 thì dự liệu thay đổi về luật có liên quan đến quyền hạn của HĐQT tức là có liên quan đến tất cả các quyết định của HĐQT có nêu trong điều 8.3 (bao gồm cả 8.3.1 và 8.3.2) vì tiêu đề của điều 8.3 là Quyền hạn của Hội đồng. Mặt khác, căn cứ vào nội dung thì dự liệu thay đổi luật liên quan đến quyền của HĐQT nói chung (không giới hạn ở những vấn đề nào) sẽ thay thế cho các quy định từ đoạn 2, khoản 8.3, điều 8 trở lên (không giới hạn ở một điều, một khoản hay một điểm nào của Điều lệ).
Lập luận như vậy là thiên lệch, tìm cách biện bạch cho các NQ sai trái. Tòa sơ thẩm căn cứ bố cục điều 8.3 có tiêu đề "Quyền hạn của Hội đồng" để giải thích một điều khoản là trái với Hợp đồng liên doanh. Điều 1.29 và điều 23.1 (b) Hợp đồng liên doanh quy định những tiêu đề trong điều lệ và hợp đồng chỉ nhằm cho việc tra cứu tham khảo được dễ dàng; trong bất kỳ trường hợp nào cũng không ảnh hưởng hoặc không được dùng để giải thích các điều khoản.
Còn về nội dung, quyền hạn của HĐQT nêu ra trong toàn bộ điều 8.3.2 (kể cả đoạn dự kiến luật thay đổi) bắt buộc giới hạn ở các quyết định khác (không thuộc loại quyết định quan trọng như bổ nhiệm, thay thế Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc...). Cụm từ "Tất cả các quyết định khác của HĐQT'' vì đã đứng làm chủ ngữ ở đầu câu nên ở đoạn dự liệu bên dưới không lặp lại để câu văn khỏi lủng củng. Đó là cách viết phổ biến. Nội dung các quyết định thuộc quyền hạn HĐQT cần điều chỉnh ở đây là cùng loại, cùng giới hạn nên nó được đưa vào trong cùng một điều khoản, không cần thiết phải chấm sang hàng hay tách thành một điều khoản khác.
Cấu trúc luật qua các thời kỳ và Điều lệ liên doanh này cũng vậy, quy định HĐQT có quyền hạn quyết định tựu trung có 2 loại vấn đề: các vấn đề chủ yếu quan trọng và các vấn đề tầm mức ít quan trọng hơn. Mỗi loại vấn đề quy định một nguyên tắc biểu quyết khác nhau, thường thể hiện ở túc số đòi hỏi cao hay thấp. Dự liệu thay đổi luật ở điều 8.3 (2) của Điều lệ liên doanh là nhắm vào đối tượng các vấn đề tầm mức ít quan trọng, sẽ tự động thay thế tỷ lệ biểu quyết theo luật (tính từ điều khoản này trở lên, không giới hạn ở một điều, một khoản hay một điểm nào như lập luận của Tòa sơ thẩm).
Ví dụ tự động thay thế nguyên tắc biểu quyết 2/3 quy định tại điều 8.2 (b), điều 8.2 (c); hoặc điều 8.1 (b) bên trên quy định nguyên tắc nhất trí về sự thay đổi số lượng thành viên của mỗi bên trong HĐQT thì nay tự động thay thế bằng tỷ lệ đa số theo Luật DN 2005.
Mặt khác, nếu theo cách hiểu của RIL và Tòa sơ thẩm thì sẽ không giải thích được mục đích của các bên khi điều 9.1 (c) bên dưới lại còn quy định "Mọi bổ nhiệm các thành viên Ban giám đốc phải được HĐQT chuẩn y trên nguyên tắc nhất trí" để làm gì?
Như vậy, cách hiểu như chúng tôi đưa ra ở trên là cách hiểu phù hợp với thực tế khách quan và đúng đắn nhất. Các văn bản do RIL đưa ra gọi là NQ văn bản thay cho phiên họp là không có giá trị pháp lý. Nhận định và kết luận của bản án sơ thẩm từ hình thức, nội dung cho đến thủ tục, thẩm quyền, thể thức và các nguyên tắc biểu quyết đều hoàn toàn sai lầm và thiên lệch. Rất mong Tòa phúc thẩm sẽ hủy án và sửa chữa những sai lầm, thiên vị của bản án sơ thẩm.
Nguyễn Công Thắng
Kỳ 1: Những khó khăn chồng chất
Kỳ 3: Nguy cơ từ bất đồng và tranh chấp quyền lực
Bình luận (0)