Trên một diện tích 5.000m2, họ giăng gần 100 tấm lưới làm từ polypropylene, kích thước 4x12m. Kết quả thật không ngờ, những hạt nước nhỏ bé trong sương bị "mắc bẫy" trong lưới, chảy xuống hệ thống hứng, cho ra tới... 15.000 lít nước mỗi ngày.
"Cách này cho phép nhận được một lượng nước rất tinh khiết mà ít tốn kém, ở mức độ kỹ thuật rất đơn giản", ông Robert Schemenauer, Giám đốc tổ chức FogQuest của Canada chuyên nghiên cứu việc thu sương, nói.
"Nhờ những tấm lưới như thế, người ta có thể... làm ra nước ở những vùng sa mạc, nơi nước mưa rất khan hiếm. Điều quan trọng là chọn vị trí thích hợp. Ngoài ra còn cần phải bảo trì thường xuyên để hệ thống làm việc hiệu quả".
![]() |
|
Hệ thống thu hồi nước từ sương ở vùng Gujarat (tây bắc Ấn Độ) |
Công nghệ "bắt sương" được nhiều người ở El Tofo tiếp tục nghiên cứu tới năm 2002 với việc thử nghiệm nhiều loại vật liệu và mô hình khác nhau. Đến nay, nó đã được ứng dụng và tiếp tục hoàn thiện ở 25 nước trên thế giới như Nam Phi, Tanzania, Nepal, Peru... và mới đây là ở Yemen. Nhiều công trình tương tự đang được xây dựng tại Guatemala, Haiti...
Để có hiệu quả cao nhất, nên giăng lưới ở những vị trí thuận lợi trên đỉnh núi cao từ 400m tới 1.000m, vuông góc với hướng gió. Trung bình các mắt lưới polypropylene có thể "thu tóm" tới 30% lượng nước trong sương, tức từ 17 lít tới 42 lít nước/m2 mỗi ngày. Dẫu vậy, hiệu suất của hệ thống vẫn có tính thất thường do bị phụ thuộc vào "chuyện mưa nắng của trời". Không khí ở vùng đặt lưới càng ít bị ô nhiễm càng tốt.
Các nhà khoa học không dừng lại ở đó, đối tượng "săn lùng" khác là... những giọt sương đêm, điều con người đã biết từ lâu. Cách phổ biến nhất là thu hồi sương nhờ một thiết bị ngưng tụ.
Ở vùng Gujarat (tây bắc Ấn Độ), một nơi khô hạn, người dân có cách làm thật đơn giản. Với sự giúp đỡ của Tổ chức Opur của Pháp, trên diện tích 850m2 họ đào những cái rãnh rồi phủ lên trên một tấm cách nhiệt, bề mặt là một lớp phim tráng sơn màu có khả năng phát tia hồng ngoại giúp làm lạnh tự nhiên. Nhờ vậy, nhiệt độ trên bề mặt tấm phủ được giảm còn 4 đến 10 độ C, giúp sương dễ ngưng tụ.
Nước từ sương đọng lại trong các rãnh được dẫn vào bể chứa và xử lý. Trung bình "bộ ngưng tụ" khổng lồ này cung cấp cho dân làng 350 lít nước một ngày. Khi hoàn tất, "nhà máy nước" Gujarat sẽ có diện tích tới 12.000m2, hằng đêm cho phép thu hồi 6.000 lít nước, đủ cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt của làng. Nước sương lọc sạch đóng chai được bán với giá chỉ bằng một nửa so với nước do nhà máy nước truyền thống sản xuất. Giá 1m2 lớp phủ ở châu u là 2 euro, trong khi ở Ấn Độ chỉ 0,4 euro.
Theo Le Figaro, Sài Gòn Giải Phóng
(đăng lại từ khoahoc.com.vn, do bạn đọc vladimirlenguyen@yahoo.com chuyển tới)
Biến nước mặn thành nước ngọt là hợp lý hơn
Là một nghiên cứu sinh đang học tập tại Pháp, tôi xin có vài ý kiến đóng góp về giải pháp cung cấp nước ngọt cho các chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa.
Trước tiên là về mô hình cung cấp nước, theo tôi việc xử lý nước biển thành nước ngọt hợp lý hơn so với việc tiến hành các công trình nước mưa, không chỉ vì đây là một giải pháp lâu dài mà còn vì địa hình trên đảo. Hiện nay trên thế giới việc sử dụng công nghệ thẩm thấu nghịch sử dụng màng bán thấm (l'osmose inverse) rất được chú trọng. Với phương pháp này, ta có thể loại bỏ được 99% thành phần muối khoáng và chất hữu cơ trong nước biển. Nếu nước biển có nồng độ muối là 35.000 ppm thì sau xử lý, nước thu được sẽ có nồng độ tối đa là 200 ppm. Màng bán thấm được sử dụng là màng mỏng polyamid. Nước sau quá trình này có thể được xử lý thêm để điều chỉnh độ pH cho phù hợp với mục đích sử dụng, hay khử trùng với UV, Chlor, Ozone. Việc áp dụng công nghệ xử lý loại này ta có thể xây dựng được những trạm xử lý từ 0,5m3 đến 120.000m3/ngày. Theo tôi được biết thì hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều công ty chuyên về xử lý nước.
Về nguồn năng lượng để vận hành hệ thống, tôi cũng cho rằng ta có thể tận dụng năng lượng mặt trời hoặc năng lượng gió, là hai nguồn năng lượng vô cùng dồi dào. Tuy nhiên, việc lắp đặt hệ thống hấp thụ năng lượng mặt trời đòi hỏi chi phí đầu tư cao, nên thiết nghĩ ta có thể sử dụng năng lượng gió để chạy máy phát điện.
Nguyen Mai Lan (nguyen@cnrs-orleans.fr)
Phong điện: giải pháp khả thi về nguồn điện
Em có đọc Báo Thanh Niên ngày 7.1.2008 và biết được vấn đề thiếu nước ngọt ở Trường Sa. Anh Nguyễn Thành Long đã sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật xử lý nước mặn thành nước ngọt nhưng lại thiếu nguồn điện để chạy máy, em nghĩ chúng ta nên sử dụng máy phát điện chạy bằng sức gió (phong điện). Sau đây là một số thông tin em biết được:
Các trạm phong điện đã được sử dụng nhiều ở các nước châu u, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển khác.
Tới nay hầu hết vẫn là các trạm phong điện trục ngang, gồm một máy phát điện có trục quay nằm ngang, với rotor (phần quay) ở giữa, liên hệ với một tua-bin 3 cánh đón gió. Máy phát điện được đặt trên một tháp cao hình côn. Trạm phát điện kiểu này mang dáng dấp những cối xay gió ở châu u từ những thế kỷ trước, nhưng rất thanh nhã và hiện đại. Các trạm phong điện trục đứng gồm một máy phát điện có trục quay thẳng đứng, rotor nằm ngoài được nối với các cánh đón gió đặt thẳng đứng. Trạm phong điện trục đứng có thể hoạt động bình đẳng với mọi hướng gió nên hiệu quả cao hơn, lại có cấu tạo đơn giản, các bộ phận đều có kích thước không quá lớn nên vận chuyển và lắp ráp dễ dàng, độ bền cao, duy tu bảo dưỡng đơn giản. Loại này mới xuất hiện từ vài năm gần đây nhưng đã được nhiều nơi sử dụng.
Hiện có các loại máy phát phong điện với công suất rất khác nhau, từ 1 Kw tới hàng chục ngàn Kw. Các trạm phong điện có thể hoạt động độc lập hoặc cũng có thể nối với mạng điện quốc gia. Các trạm độc lập cần có một bộ nạp, bộ ắc-quy và bộ đổi điện. Khi dùng không hết, điện được tích trữ vào ắc-quy. Khi không có gió sẽ sử dụng điện phát ra từ ắc-quy. Các trạm phong điện có thể phát điện khi tốc độ gió từ 3 m/s (11 km/h), và tự ngừng phát điện khi tốc độ gió vượt quá 25 m/s (90 km/h). Tốc độ gió hiệu quả từ 10 m/s tới 17 m/s, tùy theo từng thiết bị phong điện.
Một trạm phong điện 4 Kw có thể đủ điện cho một ngọn hải đăng xa đất liền. Một trạm 10 Kw đủ cho một đơn vị hải quân nơi đảo xa.
Gió là dạng năng lượng vô hình và mang tính ngẫu nhiên rất cao nên khi đầu tư vào lĩnh vực này cần có các số liệu thống kê đủ tin cậy. Một công ty đang chuẩn bị xây dựng 12 trạm phong điện với công suất 3.000 Kw trên huyện đảo Lý Sơn đã khẳng định công nghệ phong điện rất phù hợp với Việt Nam!
Toàn bộ việc lắp dựng một trạm phong điện trục đứng 40 Kw có thể hoàn thành trong 3 ngày, kể từ khi làm móng, dựng cột, lắp máy tới khi nghiệm thu và đưa vào hoạt động. Việc thi công các trạm phong điện trục ngang cần từ 15 tới 45 ngày, tùy theo loại trạm phong điện, chiều cao tháp và các điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn nơi xây dựng. Không nhà máy điện nào có thể xây dựng nhanh như phong điện.
Em hy vọng những thông tin trên có thể góp phần giải quyết vấn đề nước ngọt ở Trường Sa hiện nay.
Thái Sanh Hoàng Nhật (Bình Thạnh, TP.HCM)
Phương pháp nào cũng cần có bể chứa lớn
Thật xúc động trước nhiệt huyết của bạn đọc hưởng ứng lời kêu gọi của Thanh Niên "Hiến kế giải pháp tạo nước ngọt cho Trường Sa". Hầu hết các phương pháp để có nước ngọt cho đảo mà thế giới áp dụng đều được nhắc đến, từ cổ điển đến hiện đại, từ đơn giản đến công nghệ cao. Tuy nhiên, phương pháp nào cũng cần có bể để chứa nước ngọt. Làm thế nào để trang bị cho Trường Sa những bể chứa khổng lồ có sức bền với nắng nóng và muối biển? Theo tôi nên sử dụng bể bằng composite lắp ghép. Những tấm composite có kích thước chuẩn (1x1m, 1x2m,...) được chế tạo sẵn trong đất liền và chở ra đảo lắp ghép tại chỗ bằng bu-lông, mối ghép có lót gioăng cao su. Sau khi lắp xong, bu-lông và mép cao su có thể phủ bằng silicon để bảo vệ. Tại một số công ty cấp nước của Việt Nam đã lắp đặt các bể chứa và đài nước theo kiểu này bằng các tấm composite nhập khẩu. Hiện nay các doanh nghiệp chuyên về composite trong nước thừa khả năng chế tạo các tấm lắp ghép này. Xin được đóng góp một ý kiến nhỏ để tham khảo vậy.
Bài tham gia trang này xin gửi về: Trang “Ý kiến”, Báo Thanh Niên, 248 Cống Quỳnh, Q.1, TP.HCM hoặc e-mail: ykien@thanhnien.com.vn.

Bình luận (0)