Từ niềm đam mê cây cảnh, bonsai thuở trẻ, ông Phạm Văn Phát, Chủ tịch CLB UNESCO Nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Quảng Nam, bén duyên với những hiện vật mang dấu tích hàng trăm, hàng ngàn năm. Bộ sưu tập "Dòng chảy Việt" của ông quy tụ nhiều dòng gốm, hiện vật văn hóa Việt Nam, trong đó nổi bật là bình vôi miền Trung. Không dừng ở việc sưu tầm, ông còn hiến tặng cổ vật cho các bảo tàng, mong muốn đưa những giá trị di sản đến gần hơn với cộng đồng. Các bộ sưu tập cổ vật của ông được các nhà nghiên cứu, quản lý cổ vật đánh giá cao về giá trị văn hóa, bảo tồn.
Gần 30 năm gắn bó với cổ vật, cơ duyên nào đưa ông đến với hành trình này?
Khi còn trẻ, tôi đam mê cây cảnh, đặc biệt là nghệ thuật bonsai. Nhưng đến với cổ vật, tôi nhận ra trong từng đường nét, hoa văn, chất liệu và cách tạo tác đều có thể ẩn chứa triết lý sống, lời răn dạy và tinh hoa văn hóa của tiền nhân. Mỗi cổ vật là một câu chuyện về lịch sử, con người và thời đại. Chính chiều sâu ấy khiến tôi gắn bó với việc nghiên cứu, sưu tầm suốt gần 30 năm qua.
Ông từng đúc kết: "Sưu tầm cổ vật không chỉ để ngắm, mà để suy ngẫm". Một món đồ xưa có thể gợi mở điều gì cho cuộc sống hôm nay?
Với tôi, đạo không ở nơi cao xa mà hiện hữu trong đời sống, trong từng cổ vật. Nhìn cổ vật cũng là dịp để soi tâm, dưỡng chí. Chẳng hạn, chiếc bát có bài văn Nhạc Dương Lâu Ký của Phạm Trọng Yêm thời Bắc Tống nhắc đến triết lý "Bất dĩ vật hỷ, bất dĩ kỷ bi" - không vì vật chất mà vui, không vì bản thân mà buồn. Đó là lời nhắc con người giữ sự điềm tĩnh trước những biến động. Hay quan niệm "Tiên ưu, hậu lạc" - lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Những triết lý ấy không nằm trên một bức hoành phi ở nơi trang trọng, mà có ngay trên vật dụng thường ngày như chiếc bát cơm. Đạo đức vì vậy không chỉ để chiêm bái, mà phải thấm vào đời sống, nhắc mỗi người giữ cái tâm trước những đổi thay.
Ông Phạm Văn Phát sưu tầm cổ vật không chỉ để ngắm, mà để suy ngẫm
Quang Viên
Trong hành trình sưu tầm, có món đồ nào khiến ông nhớ mãi không chỉ vì giá trị cổ vật mà còn bởi câu chuyện phía sau?
Có được cổ vật mình yêu thích không đơn thuần là tiền bạc, thời gian, khoảng cách, mà còn cái duyên. Tôi nhớ chiếc bình vôi bằng đồng do một người quen mang từ Mỹ về tặng. Người ấy nói không biết giá trị bao nhiêu, bán đi thì mất, giữ mà không hiểu biết thì cũng vô nghĩa, nên muốn trao cho người đam mê và biết trân trọng cổ vật.
Hay chiếc bình rượu gốm Quảng Đức được một người chị tìm mua ở nước ngoài mang về. Vì muốn có món đồ ấy cho tôi, chị đã mất ngủ, bỏ công việc, đi đến nơi bán cách hơn 250 km để lấy bằng được. Chị còn đùa rằng vì cái đam mê của tôi mà chị khổ. Những câu chuyện như vậy khiến tôi hiểu rằng giá trị của cổ vật không chỉ nằm ở bản thân hiện vật, mà còn ở tình cảm và sự kết nối giữa những người cùng yêu di sản.
Ông Phát giới thiệu chiếc bình vôi cổ gốm Quảng Đức thuộc loại quý hiếm
Quang Viên
Vậy làm thế nào để ông nhận biết niên đại, nguồn gốc và giá trị của một cổ vật, nhất là khi thị trường có cả đồ giả, đồ làm mới?
Thú chơi đồ cổ đòi hỏi nhiều công phu. Người sưu tầm phải hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, thơ văn, hội họa và những kiến thức liên quan. Tôi quan sát độ co rút của men, vết rạn, màu sắc, họa tiết, bút pháp, chữ viết và dấu vết lão hóa theo thời gian. Có khi phải nhìn cách đầu cọ, cuối cọ trong một nét vẽ; có khi nghe âm thanh mà cảm nhận chất liệu, thậm chí nhận biết mùi đặc trưng. Những dấu hiệu ấy phải được đặt trong tổng thể kiến thức và quá trình nghiên cứu, đối chiếu.
Giá trị cổ vật cũng không chỉ phụ thuộc tuổi đời. Cần xét nguồn gốc, lò sản xuất, nghệ nhân, độ tinh xảo, số lượng, độ hiếm và vị trí của món đồ trong đời sống xưa, chẳng hạn đồ ngự dụng, đồ vua ban, quan dụng hay dân dụng. Hai hiện vật cùng thời, cùng kiểu dáng nhưng khác lò, khác hiệu đề hoặc khác trình độ chế tác thì có giá trị khác nhau.
Khi hiểu được minh văn, tức chữ viết trên hiện vật; và đồ án, tức ý nghĩa của hình vẽ, người sưu tầm sẽ cảm nhận món đồ sâu sắc hơn. Ngược lại, mua nhầm đồ giả sẽ khiến người chơi mất hứng thú, thậm chí từ bỏ cuộc chơi.
Trong bộ sưu tập "Dòng chảy Việt", vì sao ông chọn bình vôi miền Trung làm điểm nhấn?
Cơ duyên khi tôi có được một chiếc bình vôi gốm Quảng Đức thuộc loại lớn, đẹp và có thể gần như độc bản trong dòng sản phẩm ấy. Nước men, màu sắc, hoa văn và những chi tiết tạo tác khiến tôi say mê. Trên quai bình có dây trầu cùng nhiều quả cau; một mặt có hình rồng, mặt kia có bài thơ Tô Đông Pha du Xích Bích, cùng nhiều chữ như phúc, đức, tài, thịnh. Trên thân còn có những mảng vỏ sò đã tan chảy trong quá trình nung.
Từ chiếc bình ấy, tôi nhìn thấy không chỉ vẻ đẹp tạo hình mà cả câu chuyện về tập tục ăn trầu, nếp sống và quan niệm văn hóa của người Việt. Bình vôi được nhân cách hóa bằng cách gọi kính trọng là "ông". Nó gắn với một truyền thống lâu đời, đồng thời phản ánh thẩm mỹ và đời sống tinh thần qua nhiều thời kỳ.
Điều khiến tôi chú ý ở gốm Quảng Đức và một số sản phẩm Châu Ổ là kỹ thuật sử dụng vỏ sò huyết chèn vào bao gốm để tăng nhiệt độ lò. Khi nung, vỏ sò tan chảy, quyện với đất sét, tạo nên hiệu ứng men đặc biệt. Tùy ánh sáng và thời điểm quan sát, màu sắc có thể biến chuyển giữa xanh lục, xanh dương, xanh ngọc, trắng, đỏ, nâu… Những hoa văn tự nhiên ấy khiến mỗi sản phẩm có diện mạo riêng, khó có chiếc nào hoàn toàn giống chiếc nào.
Theo ông Phát, bình vôi Việt các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn có nhiều giá trị nghệ thuật
Quang Viên
Bình vôi qua các thời kỳ có nhiều biến đổi. Theo ông, điều gì làm nên nét riêng của bình vôi Việt Nam?
Bình vôi qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn có nhiều giá trị nghệ thuật. Ngoài những chiếc đặc biệt, người sưu tầm có thể gặp nhiều sản phẩm tương đối giống nhau về hình dáng và màu sắc. Nhưng ở gốm Quảng Đức, hiệu ứng men do vỏ sò huyết tạo nên mang lại nét riêng rất rõ.
Một điều thú vị khác là bình vôi ký kiểu thời Nguyễn. Có những sản phẩm được đặt làm ở nước ngoài (gọi là ký kiểu), với các mô típ trang trí như dơi, chữ vạn phúc, người đẹp bên liễu rủ, cảnh sơn thủy. Quai cầm vốn gắn với hình ảnh dây trầu vấn vít có thể được thay bằng những dải mây, dải lụa. Sự thay đổi ấy cho thấy cổ vật không chỉ là câu chuyện kỹ thuật hay mỹ thuật, mà còn phản ánh cách một vật dụng được tiếp nhận và biến đổi theo thời đại. Với tôi, việc tìm hiểu bình vôi là tìm hiểu một phần phong tục, nếp sống và bản sắc văn hóa Việt.
Chiếc bình vôi cổ bằng đồng do một người bạn mang từ nước ngoài về tặng người đam mê và biết trân trọng cổ vật là ông Phát
Quang Viên
Bình rượu gốm Quảng Đức được một người mang từ Mỹ về tặng ông Phát
Quang Viên
[Ông Phát cho rằng gom một món đồ xưa là giữ lại một mảnh thời gian
Quang Viên
Từ niềm say mê bình vôi, bộ sưu tập "Dòng chảy Việt" được hình thành như thế nào?
Từ tình yêu văn hóa Việt và những chiếc bình vôi, tôi dần hình thành ý tưởng xây dựng bộ sưu tập "Dòng chảy Việt". Ngoài bình vôi làm chủ đạo, bộ sưu tập còn có các dòng gốm, hiện vật liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo, Chăm, Đông Sơn và nhiều giai đoạn khác. Tôi cũng sưu tầm hiện vật Trung Quốc qua các thời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh để đối chiếu, tìm hiểu sự giao lưu văn hóa.
Với tôi, mỗi món đồ là một vùng đất, một lớp văn hóa, một dấu ấn của những người từng tạo tác, sử dụng rồi trao truyền qua nhiều thế hệ. Đằng sau hoa văn có thể là phong tục, tình yêu lứa đôi, tín ngưỡng, lời răn dạy hay những câu chuyện đời thường. Nếu chỉ nhìn cổ vật như vật quý đặt trong tủ kính, chúng ta có thể thấy vẻ đẹp bên ngoài mà bỏ qua lớp trầm tích văn hóa bên trong.
Ông Phát còn sưu tầm các dòng gốm, hiện vật liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo, Chăm Pa, Đông Sơn...và cả Trung Quốc để đối chiếu, tìm hiểu sự giao lưu văn hóa
Quang Viên
Khi đặt cổ vật Việt Nam bên cạnh cổ vật Trung Quốc, ông nhận thấy điều gì về bản sắc văn hóa dân tộc?
Gốm sứ Việt Nam có sự giao thoa với Trung Quốc về kỹ thuật luyện lò, công thức tráng men và kiểu dáng. Nhưng theo những gì tôi nghiên cứu, văn hóa Việt không đơn thuần sao chép nguyên bản mà có quá trình tiếp nhận, biến đổi để hình thành phong cách riêng. Có thể thấy điều đó qua bút pháp, họa tiết và đề tài trang trí. Nhiều sản phẩm Việt có nét vẽ phóng khoáng, bay bổng, mang đậm tính dân gian, gắn với làng quê và đời sống bản địa. Những hình ảnh như chim chóc, cá chép, hoa sen hay cảnh sinh hoạt thường ngày đem lại cảm giác gần gũi.
Việc so sánh cần đặt trong bối cảnh lịch sử và mỹ thuật rộng lớn, không thể chỉ dựa vào một vài đặc điểm. Nhưng chính quá trình giao lưu và biến đổi ấy cho thấy bản sắc văn hóa không phải thứ bất động. Nó được bồi đắp qua tiếp xúc, chọn lọc và sáng tạo, để những giá trị riêng vẫn được nhận diện qua nhiều thế hệ.
Ông Phạm Văn Phát bên bộ sưu tập bình vôi Việt
Quang Viên
Ông từng nói gom một món đồ xưa là giữ lại một mảnh thời gian. Sau gần 30 năm, điều ông muốn trao lại cho thế hệ sau là gì?
Tôi muốn giữ lại không chỉ những vật xưa mà còn cả ký ức văn hóa, lịch sử được gửi gắm trong đó. Mỗi món đồ là một câu chuyện về một vùng đất, một lớp văn hóa và những con người từng tạo tác, sử dụng, trao truyền nó. Cổ vật dù quý hiếm đến đâu rồi cũng có thể đổi chủ, được đưa vào những tủ kính ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng nếu cổ vật không được nghiên cứu và lan tỏa, những giá trị văn hóa ấy có nguy cơ bị lãng quên.
Tôi xem "Dòng chảy Việt" là một cuộc đi tìm ký ức: gom một món đồ xưa là giữ lại một mảnh thời gian; gom nhiều mảnh thời gian là góp nhặt nên một dòng chảy văn hóa dân tộc. Nếu không có sự gìn giữ, trân trọng và nhìn đúng về cổ vật, thế hệ sau có thể chỉ còn biết đến chúng qua sách vở.
Không chỉ sưu tầm cho riêng mình, ông còn hiến tặng nhiều hiện vật cho bảo tàng. Điều gì khiến ông lựa chọn chia sẻ những món đồ tâm huyết ấy?
Ngoài niềm vui sưu tầm, nghiên cứu và thưởng thức tinh hoa nghệ thuật của cha ông, tôi mong có thể góp phần đưa cổ vật đến gần hơn với công chúng. Khi hiện vật được trao cho bảo tàng, chúng có thêm cơ hội phục vụ nghiên cứu, trưng bày và giúp nhiều người hiểu hơn về di sản.























Bình luận (0)