Hình xăm giúp phát hiện sớm ung thư

Đánh giá tác giả

0 Thanh Niên Online
Hình xăm phục vụ nhiều mục đích, có thể nhằm bày tỏ tính nghệ thuật, lòng trung thành hay tình yêu. 
 /// Ảnh: Shutterstock - Ảnh: Shutterstock
Ảnh: Shutterstock
Nay các chuyên gia thuộc Đại học ETH Zurich (Thụy Sĩ) cho biết họ đã thiết kế một loại hình xăm “y khoa” có thể tầm soát những dấu hiệu ban đầu của bệnh nghiêm trọng.
Theo UPI, hình xăm y sinh nói trên được cấu thành từ những tế bào được cài những cảm biến để đo mức calcium huyết.
Ban đầu hình xăm này vô hình khi được cấy dưới da. Nhưng các cảm biến trở nên rõ ràng nếu mức calcium trong máu tăng lên. Điều đó báo hiệu một tình trạng gọi là hypercalcemia (chứng tăng calcium huyết), vốn là chỉ dấu của nhiều loại ung thư và các bệnh nghiêm trọng khác.
“40% tất cả các loại ung thư, bao gồm ung thư ruột kết, ung thư phổi, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt, phá vỡ cân bằng calcium. Hình xăm y sinh được thiết kế để “bắt” chứng calcium huyết nhẹ”, tác giả nghiên cứu Martin Fussenegger thuộc Khoa Khoa học và Kỹ thuật Hệ thống Sinh học của ETH Zurich.
Theo chuyên gia trên, sự xuất hiện của hình xăm trên có thể báo hiệu một số loại ung thư có thể bắt đầu phát triển. Khi mức calcium huyết tiếp tục tăng cao, tế bào được cấy ghép sản sinh melanin, tạo ra một mảng da sẫm lộ rõ trên da.
Cuộc thử nghiệm được tiến hành trên những con chuột có các khối u ung thư có thể gây ra chứng calcium huyết hoặc những khối u không làm thay đổi mức calcium trong máu.
Về lý thuyết, một cuộc chẩn đoán bằng hình xăm thường xảy ra vào giai đoạn mắc bệnh đủ sớm để “hơn 95% các loại ung thư được đề cập trên đây sẽ được chữa trị”.
Ông Fussenegger và các cộng sự “ấn tượng với sự chính xác và nhạy cảm của hình xăm”. Một mảng da sẫm chỉ xuất hiện khi mức calcium huyết cao vẫn tồn tại, và điều này sẽ giảm khả năng có những chẩn đoán sai lạc.
Tuy nhiên, ông Fussenegger thừa nhận các thí nghiệm trên động vật không hẳn đúng với người. Các cuộc thử nghiệm trên người sẽ bắt đầu trong vòng 5 năm nữa.
Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Science Translational Medicine.

Bình luận

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm