img

Nhìn lại chặng đường từ năm 1986 đến nay, khu vực kinh tế nhà nước đã trải qua một cuộc "phẫu thuật" lớn chưa từng có về cơ cấu. Nếu như trong những năm đầu Đổi mới, kinh tế nhà nước bao trùm mọi ngõ ngách của đời sống kinh tế, đóng góp hơn 40% GDP, thì nay khu vực này chỉ còn một nửa, khoảng 20%.

"NGƯỜI KHỔNG LỒ" CHẬM CHẠP

Từ con số khổng lồ hơn 12.000 doanh nghiệp nhà nước vào đầu thập niên 90, hệ thống đã được tinh gọn xuống còn khoảng hơn 800 doanh nghiệp hiện nay.

Sự sụt giảm con số không phản ánh sự suy yếu mà là kết quả tất yếu của chủ trương cổ phần hóa bắt đầu từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước và sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực tư nhân cùng dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Thực tế, sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, điều tiết các hoạt động kinh tế.

Dù giảm mạnh về tỷ trọng đóng góp vào các chỉ tiêu vĩ mô cũng như số lượng doanh nghiệp, quy mô doanh thu của khu vực kinh tế nhà nước hiện tăng gấp 7 lần so với hồi đầu thế kỷ. Nguồn lực quốc gia vẫn tích tụ rất lớn trong khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là tại các lĩnh vực huyết mạch như năng lượng, hạ tầng, viễn thông và tài chính ngân hàng.

Tuy nhiên, dù nắm giữ khối tài sản rất lớn, "người khổng lồ" này vẫn bước đi khá nặng nề. Bộ Chính trị đánh giá, việc quản lý, sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản nhà nước chưa thực sự hiệu quả, còn lãng phí, thất thoát, chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế quốc dân.

Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu. Tính đến cuối năm 2024, có 164 doanh nghiệp nhà nước (tức 20%) còn lỗ lũy kế với tổng số lỗ hơn 106.000 tỉ đồng.

Dù nắm giữ nguồn lực lớn, song không ít doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa phát huy tương xứng vị trí và kỳ vọng, đặc biệt về đổi mới quản trị, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc tế.

- Ảnh 1.GS-TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học - Đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân

Thực tiễn 40 năm qua đã chỉ rõ những "điểm nghẽn" chí mạng khiến khu vực này chậm đổi mới, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Đó là cơ chế quản lý hành chính bao cấp vẫn len lỏi trong tư duy quản trị doanh nghiệp, biến quan hệ chủ sở hữu nhà nước thành những can thiệp hành chính cứng nhắc.

Tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không "dám nghĩ, dám làm" đã trở thành lực cản vô hình, kìm hãm sự đổi mới sáng tạo - yếu tố sống còn trong kinh doanh hiện đại. Hơn thế nữa, sự nhập nhằng giữa nhiệm vụ chính trị và mục tiêu kinh tế khiến nhiều doanh nghiệp nhà nước lúng túng, vừa không hoàn thành tốt vai trò "bà đỡ" cho nền kinh tế, vừa thua sút về năng lực cạnh tranh ngay trên sân nhà…

Theo GS Trần Thọ Đạt, trong bối cảnh mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng cũng như yêu cầu đổi mới nội tại, tái định vị vai trò, chức năng, cách thức vận hành của kinh tế nhà nước đang trở thành nhu cầu bức thiết.

DẪN DẮT, MỞ ĐƯỜNG

Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ra đời như một lời giải cho bài toán hóc búa về hiệu quả nguồn lực công, khắc phục điểm nghẽn lớn nhất: tư duy, nhận thức đối với vị trí, vai trò, phạm vi của kinh tế nhà nước. Trong cuộc tọa đàm mới đây, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói, bà mừng vì Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị nhấn mạnh quản trị tài sản công chứ không phải nói về doanh nghiệp nhà nước.

“Tài sản thuộc sở hữu toàn dân không có nghĩa chỉ khu vực nhà nước được ưu tiên sử dụng, mà phải được phân bổ hiệu quả cho toàn xã hội, kể cả khu vực tư nhân và cộng đồng”, bà Phạm Chi Lan phân tích.

Trong Nghị quyết 79, Bộ Chính trị xác định kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước quản lý như đất đai, tài nguyên, ngân sách, dự trữ quốc gia và các quỹ tài chính. Sự thay đổi về "định danh" này kéo theo một sự thay đổi mang tính cách mạng về "định vị".

Nếu trước đây người ta thường nhắc đến vai trò của kinh tế nhà nước là "giữ ổn định vĩ mô, điều tiết nền kinh tế" thì nay Nghị quyết 79 đặt lên vai khu vực này sứ mệnh tiên phong: "kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới". 

Tư duy này đã xác lập một vị thế hoàn toàn mới: Nhà nước không làm thay thị trường, không lấn sân tư nhân ở những nơi họ làm tốt, mà tập trung nguồn lực để khai phá những lĩnh vực mới, khó, đòi hỏi vốn lớn và rủi ro cao mà tư nhân chưa thể hoặc không muốn làm.

Để hiện thực hóa vai trò dẫn dắt, mở đường, Nghị quyết 79 đã xác định quan điểm: kinh tế nhà nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường; bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; đồng thời, tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển.

Đây là yêu cầu thực tiễn bức thiết để xóa bỏ sự bao cấp và ỷ lại. Doanh nghiệp nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng, lời ăn lỗ chịu, xóa bỏ tư duy "con cưng" được ưu ái tiếp cận nguồn lực nhưng lại được "nuông chiều" về hiệu quả.

“Nghị quyết 79 đã xác lập lại một tư duy cân bằng hơn: Đó là kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng vai trò đó phải được khẳng định bằng hiệu quả, năng lực cạnh tranh và đóng góp thực chất cho phát triển, chứ không phải bằng đặc quyền hay bao cấp”, GS-TS Trần Thọ Đạt nhấn mạnh.

"BẦU TRỜI THỂ CHẾ" ĐỦ RỘNG

Tại Nghị quyết 79, Bộ Chính trị đặt ra các mục tiêu rất cụ thể và tham vọng đối với doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể, đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 50 doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực, trong đó có 1 - 3 doanh nghiệp lọt vào top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Xa hơn, đến năm 2045, mục tiêu có khoảng 60 doanh nghiệp trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn của khu vực và khoảng 5 doanh nghiệp nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu.

- Ảnh 2.

Mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế nhà nước tại Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị

Dù kỳ vọng rất cao, nhưng hiện kinh tế nhà nước nhất là các doanh nghiệp đang bị trói buộc bởi “điểm nghẽn của điểm nghẽn” là thể chế. Doanh nghiệp nhà nước bị kẹt giữa nhiệm vụ vừa phải kinh doanh phải sinh lời vừa chịu sự quản lý hành chính với cơ chế giám sát nặng về xin - cho, phê duyệt qua nhiều tầng nấc nhưng lại yếu về đánh giá hiệu quả cuối cùng. Hệ lụy khiến doanh nghiệp thay vì đổi mới sáng tạo lại lựa chọn đứng yên để an toàn.

Để có những "sếu đầu đàn" vươn tầm thế giới như mục tiêu đặt ra, ý kiến của các chuyên gia cho rằng việc của Nhà nước không phải "cầm tay chỉ việc" mà cần tạo ra một bầu trời thể chế đủ rộng, đủ minh bạch và an toàn.

Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị đã đưa ra các giải pháp được đánh giá là bước tiến về tư duy khi tách bạch nhiệm vụ chính trị với hoạt động kinh doanh. Nhà nước sẽ bảo đảm về vốn để doanh nghiệp thực hiện các dự án, nhiệm vụ chính trị được giao. Nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh sẽ được hạch toán riêng, đánh giá trên tổng thể các mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

Nghị quyết 79 cũng chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” và quản trị theo tiêu chuẩn OECD khi nêu rõ: cần chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, trùng lặp, kéo dài, không cần thiết, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ thanh kiểm tra trên nền tảng số. Điều này giúp giảm phiền hà, sách nhiễu đồng thời cũng gắn với trách nhiệm giải trình để hoạt động của doanh nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước vẫn trong khuôn khổ, kỷ cương.

- Ảnh 3.

Nghị quyết 79 đề ra nhiều giải pháp để tạo bước phát triển mới cho kinh tế nhà nước

Đặc biệt, Nghị quyết 79 nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi. Đồng thời thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện và minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật nhằm xử lý đúng người, đúng tội. Đây được xem là lá chắn giúp bảo vệ cán bộ khi đưa ra các quyết định đổi mới, sáng tạo khi chuyển từ tư duy “quản lý để kiểm soát” sang tư duy “quản trị để phát triển”. 

Cùng đó, giải pháp tái cơ cấu thực chất cũng được Nghị quyết 79 đặt ra. Doanh nghiệp nào nắm giữ vị trí then chốt thì giữ lại và đầu tư lớn; doanh nghiệp nào làm thương mại thuần túy thì mạnh dạn thoái vốn.

Lần đầu tiên, khái niệm “Quỹ đầu tư quốc gia” được nêu rõ trong một nghị quyết của Bộ Chính trị. Nghị quyết 79 yêu cầu tái cơ cấu toàn diện Tổng công ty Đầu tư - Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) để hình thành mô hình Quỹ đầu tư quốc gia như mô hình Temasek của Singapore - một quỹ đầu tư quốc gia hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Theo đó, Nhà nước tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược, tạo nền tảng ban đầu, sau đó từng bước nhường lại cho thị trường khi khu vực tư nhân đủ năng lực tiếp quản.

CÔNG THỨC “5 HÓA”

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết 79, đã khái quát hóa tư duy hành động của nghị quyết bằng công thức "5 hóa" nguồn lực nhà nước: thể chế hóa, thị trường hóa nguồn lực, doanh nghiệp hóa quản trị, xã hội hóa đầu tư và số hóa quản lý.

- Ảnh 4.
- Ảnh 5.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính tại lễ khởi công nhà máy sản xuất chip bán dẫn đầu tiên của Việt Nam hồi cuối tháng 1

ẢNH: VGP

Trong đó, "thị trường hóa nguồn lực" và "doanh nghiệp hóa quản trị" là những mũi nhọn để phá vỡ tảng băng trì trệ. Nhà nước sẽ quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch chứ không can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động kinh doanh. Mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại được áp dụng, tách bạch rạch ròi giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Các định chế đầu tư vốn như SCIC sẽ đóng vai trò then chốt, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy nhà đầu tư chuyên nghiệp, tập trung vào hiệu quả của đồng vốn bỏ ra…

Song thách thức lớn nhất của việc thực hiện Nghị quyết 79 không chỉ ở mục tiêu hay thiếu các quy định pháp luật. GS-TS Trần Thọ Đạt cho rằng, thách thức lớn nhất trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết 79 nằm ở việc thay đổi cách tiếp cận và tư duy thực thi chính sách. Khó khăn lớn nhất hiện nay là làm thế nào chuyển hóa được tinh thần cải cách của nghị quyết thành các quy định pháp luật đủ rõ, đủ mạnh nhưng vẫn tạo không gian linh hoạt cho thị trường vận hành.

“Thực tế, chúng ta vẫn còn xu hướng thiết kế chính sách theo hướng an toàn, nặng về kiểm soát rủi ro, dẫn tới tình trạng quy định chồng chéo, thủ tục phức tạp và tâm lý e ngại trách nhiệm của người thực thi. Nếu không giải quyết được điểm này, việc thể chế hóa có nguy cơ “đúng về hình thức nhưng chưa trúng về tinh thần” của nghị quyết”, ông Đạt phân tích.

GS-TS Hoàng Văn Cường, Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội, trong hội thảo mới đây về Nghị quyết 79, cũng cho rằng, chương trình hành động Nghị quyết 79 cần xác định cách đi rất rõ ràng để khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân thực hiện sứ mệnh của mình. 

Ông đề nghị Nhà nước phải đảm nhận vai trò phân định sân chơi cho khu vực nhà nước và tư nhân. Một số lĩnh vực chủ chốt, nhà nước cần nắm giữ như quản lý hàng không, hàng hải liên quan chủ quyền an ninh. Nhưng với lĩnh vực khác, ví dụ như về năng lượng, cả tư nhân cũng có tham gia, và nhà nước cần phân định rõ vai trò của từng khu vực.

“Bản thân trong khu vực nhà nước, cần chỉ rõ nhiệm vụ của từng doanh nghiệp và tập trung đầu tư nguồn vốn. Việc phân bổ đầu tư phải có chiến lược thực hiện, tránh việc cái gì cũng cần nguồn lực đầu tư”, ông Cường nêu.

GS-TS Trần Thọ Đạt cho rằng, thành công của Nghị quyết 79 cần được đo lường bằng việc xây dựng được một mô hình kinh tế nhà nước hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, trong đó Nhà nước sử dụng hiệu quả các nguồn lực công để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, công bằng và thịnh vượng.

“Nếu các giải pháp được thực hiện đồng bộ, kinh tế nhà nước sẽ không chỉ là “điểm tựa” của nền kinh tế, mà còn trở thành động lực phát triển dài hạn, đồng hành cùng Việt Nam trên con đường trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI”, ông Đạt khẳng định.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.