Bài học 'tìm người tài đức' của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tìm người tài đức phải là công việc thường xuyên, liên tục. Để thu hút người tài đức tham gia công tác phải tạo ra cơ chế phù hợp để người có tài đức thực sự phát huy được năng lực của mình và cần có chính sách đãi ngộ tương xứng với đóng góp của họ.

"Nhân tài và kiến quốc"

Ngày 14.11.1945, báo Cứu Quốc đăng bài Nhân tài và kiến quốc, tác giả Hồ Chí Minh. Bài viết nói rõ: "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều. (…) Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài nǎng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hǎng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay".

Ông Trần Quốc Hương (1924 - 2020) thường gọi là Mười Hương, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, sinh thời đã kể lại câu chuyện Tổng Bí thư Trường Chinh báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trong Chính phủ, ta đã mời được một số vị trước làm quan trong triều đình Huế, có người tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim, nhiều vị trí thức tân học tiến bộ, nhưng chưa có vị nào là bậc khoa bảng cao thời Nho học. Đề nghị với Bác mời cụ Huỳnh Thúc Kháng ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý và nói để trao đổi với Phó chủ tịch Chính phủ Nguyễn Hải Thần (sau này đào nhiệm không theo kháng chiến). Ông Nguyễn Hải Thần cũng tán thành. Sau đó, Tổng Bí thư giao cho ông Trần Quốc Hương đánh điện gửi đại diện Chính phủ ở miền Trung với nội dung yêu cầu chuyển lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần mời cụ Huỳnh ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Bài học 'tìm người tài đức' của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Ảnh 1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà khoa học (năm 1964)

Tư liệu K.M.S

Ông Trần Quốc Hương nhớ lại: "Anh Võ Nguyên Giáp trước kia có làm báo Tiếng Dân với cụ Huỳnh cũng gửi điện thiết tha mời cụ ra Hà Nội làm việc. Anh Nguyễn Duy Trinh điện ra nói đã chuyển điện tới cụ Huỳnh, nhưng trong này Việt Nam Quốc dân Đảng đang ra sức tranh thủ, lôi kéo cụ Huỳnh. Lúc bấy giờ trong cán bộ ta cũng có ý kiến cho rằng cụ Huỳnh hay tự hào quê cụ có "Tứ hùng danh kiệt, ngũ phụng tề phi"; cụ tỏ thái độ không ưng đàn bà con gái cắt tóc ngắn, mặc quần xà lỏn đi biểu tình".

Nhận được điện, ông Trần Quốc Hương báo cáo Tổng Bí thư Trường Chinh và phân vân có báo cáo với Chủ tịch Chính phủ sự việc này không. Ông Trường Chinh nói ngay: "Phải báo cáo với Bác chứ, các anh ở trong ấy báo cáo sự thật mà".

Sau đó, Tổng Bí thư sang báo cáo và trình bức điện của ông Nguyễn Duy Trinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đảng ta là Đảng yêu nước, chú có tin cụ Huỳnh là người yêu nước không? Tại sao Đảng ta yêu nước, có đường lối đúng mà lại không thuyết phục được cụ? Chú cứ cho điện gấp nói rằng tôi và cả Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần mời cụ ra Hà Nội".

Nhận được điện mời lần tiếp theo, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội. Sau khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ (ngày 2.3.1946).

Ông Trần Quốc Hương dẫn lời thiếu tướng - Phó giáo sư Cao Pha (tên thật là Nguyễn Thế Lương) kể lại: Anh Cao Pha hỏi cụ Huỳnh: "Cụ bảo chỉ ra thăm Bác Hồ thôi, sao cụ lại nhận việc?". Cụ trả lời: "Ta ra Hà Nội gặp Cụ Hồ rồi (…) khi gặp Cụ Hồ, Cụ nói đến đá cũng phải mềm. Ta nhận nhiệm vụ cũng vì lợi ích quốc dân".

Sắp tới đây, cả nước kỷ niệm 150 năm ngày sinh chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). Câu chuyện trên đây cho chúng ta nhiều suy nghĩ về bài học tìm người tài phụng sự đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng vào thực tế hiện nay.

Tư duy chuẩn mực sử dụng người tài đức

Tròn 1 năm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố tiếp thông báo Tìm người tài đức đăng trên báo Cứu Quốc ngày 20.11.1946. Người viết: "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa điều đó và trọng dụng những người hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ".

Bài học 'tìm người tài đức' của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Ảnh 2.

Bài viết Tìm người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư liệu Thư viện Quốc gia - K.M.S chụp lại

Ngày nay nhìn lại, chúng ta thấy rằng, chọn người tài đức tham gia việc nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tư duy chuẩn mực trong sử dụng cán bộ. Đó là sử dụng người tài vào vị trí phù hợp. 

Đại tướng Chu Huy Mân sinh thời kể lại ông từng phải đứng lò cò một chân rất lâu khi vào làm việc với Bác. Đó một bài học nhớ đời về người làm tướng phải chú trọng cả quân sự và chính trị, chứ không thể thiên lệch một bên nào. 

Bí danh Hai Mạnh gắn với đại tướng Chu Huy Mân từ đó. Xét riêng ở việc sử dụng tướng lĩnh vào việc quân, những vị tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên (năm 1948) có tài năng, song cũng không phải không có những khiếm khuyết của tính cách đời thường "dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu ưu điểm và cả nhược điểm của họ để sử dụng từng vị tướng vào công việc phù hợp.

Bài học sử dụng người tài vào vị trí phù hợp tròn 81 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Năm 1946, từ nước Pháp trở về, Người đã đồng ý để 4 nhà khoa học về cùng: Phạm Quang Lễ (sau này là thiếu tướng - Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước (sau này là chuyên gia hàng đầu về y khoa chuyên ngành Tai - Mũi - Họng), Võ Quý Huân (chuyên gia đúc - luyện kim), Võ Đình Quỳnh (người được mệnh danh là "ông vua gang thép" ở miền Nam).

Đó là những chuyên gia về luyện kim, vũ khí và y khoa mà đất nước đang cần cho cuộc kháng chiến. Còn những triết gia hay thi nhân khi đề nghị xin được về nước, Hồ Chủ tịch động viên họ cứ ở lại Pháp, chờ có cơ hội thích hợp thì về nước. Trước mắt, họ vẫn tích cực tham gia phong trào Việt kiều yêu nước để ủng hộ cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc ở quê nhà.

Ngay trong kháng chiến, dù bị bao vây tứ phía ngặt nghèo, chưa có đường thông sang biên giới với Trung Quốc và các nước XHCN, ngày 4.9.1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Hội đồng Giáo dục có nhiệm vụ giúp Bộ Giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục. Trong số này có những nhà khoa học đang ở nước ngoài là tiến sĩ hóa học Bửu Hội, tiến sĩ luật học - thạc sĩ sử địa Phạm Huy Thông, thạc sĩ triết học Trần Đức Thảo…

Sử dụng người tài đức có trước có sau

Một trong 4 nhà khoa học theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước là kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Ông được phong thiếu tướng đợt đầu tiên năm 1948. Đến kháng chiến cứu nước, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đang được biệt phái sang công tác nghiên cứu khoa học. Hồ Chủ tịch nhắc nhở những người đứng đầu Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Quốc phòng: "Tôi đem chú Nghĩa về để kháng chiến. Bây giờ cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, chưa biết diễn biến sẽ ra sao. Chú Nghĩa đang ở Hà Nội, tại sao không mời chú ấy tham gia công tác quốc phòng".

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ định ông Trần Đại Nghĩa làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Mấy tháng sau, có ý kiến của Ban Tổ chức Trung ương cho rằng ông Trần Đại Nghĩa làm 3 nhiệm vụ một lúc thì nặng quá, cho nên chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật nhà nước để cử người khác thay.

Biết chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng ý. "Chú Nghĩa hồi kháng chiến chống Pháp làm bao nhiêu nhiệm vụ mà cũng làm được (Cục trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục Pháo binh, Thứ trưởng Bộ Công thương). Tại sao sau mấy chục năm, chú ấy lại không làm được 3 việc?".

Đó là sự có trước có sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sử dụng người tài đức nói chung, tướng tài nói riêng vào công việc quốc gia đại sự.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.