Bệnh run tay

11/06/2005 15:25 GMT+7

Triệu chứng run tay gặp ở khá nhiều người (cả già lẫn trẻ) và là biểu hiện chung của khá nhiều bệnh về thần kinh - tinh thần hoặc nội tiết.

Cần phân biệt các loại run tay:

1/ Run tay với biên độ lớn. Tốc độ run không cao, có thể kèm theo các động tác giật cục: Thường gặp trong các tổn thương của não bộ như bệnh Parkinson, tổn thương của tiểu não, hoặc di chứng của viêm não... rất khó điều trị, đòi hỏi phải đến bác sĩ chuyên khoa về thần kinh để được xác định chẩn đoán và điều trị lâu dài.

Parkinson là một chứng bệnh hay gặp ở người cao tuổi, do tổn thương thoái hóa một số tổ chức trong não (thể vân, liềm đen...). Run là biểu hiện thường gặp của bệnh, run không cố ý, thấy rõ ở ngón tay, môi, lưỡi nên cầm nắm, ăn uống khó khăn. Người bệnh giảm hoặc mất các động tác tự nhiên của nét mặt, không còn biểu lộ tình cảm, khi đi không vung vẩy tay như bình thường, lưng cúi lom khom. Run khi tập trung chú ý làm việc thường là do tiểu não còn run tự nhiên phần nhiều là do bệnh Parkinson. Người bệnh cần đến các bác sĩ chuyên khoa thần kinh để xác định đang bị bệnh Parkinson hay hội chứng Parkinson (biểu hiện của u não, rối loạn mạch não...) để có hướng điều trị đúng và kịp thời.

2/ Run tay với biên độ nhỏ, tốc độ run nhanh và đều. Thường gặp trong bệnh Basedow, hội chứng cường giáp có kèm theo bướu cổ, tiểu đường và một số trường hợp rối loạn thần kinh thực vật. Các tình trạng stress, thức đêm nhiều, mất ngủ hoặc uống nhiều rượu cũng có thể dẫn đến run tay. Chứng run tay do rối loạn thần kinh thực vật thường không rõ nguyên nhân và rất khó điều trị khỏi hẳn. Ngoài ra, run tay còn có thể do bị cường chức năng tuyến giáp (Bệnh Basedow - biểu hiện bằng lồi mắt, bướu cổ, da nóng, run tay, nhịp tim nhanh, rối loạn tinh thần, nói nhiều, khó ngủ, gầy sút, rối loạn về nội tiết...) hoặc có khối u nào đó gần vùng tiểu não, não bộ... Tùy theo nguyên nhân mà ta có những phương pháp điều trị thích hợp. Việc đầu tiên là cần phải điều trị tận gốc các bệnh đã gây nên triệu chứng run tay như bệnh Basedow, hội chứng cường giáp, tiểu đường, rối loạn thần kinh thực vật...

3/ Run tay kèm với tê rần và cảm giác bì bì ở các ngón tay giữa thì phải lưu ý đến hội chứng ống cổ tay do dây thần kinh giữa trong ống cổ tay bị chèn ép. Để xác định chẩn đoán hội chứng ống cổ tay, ngoài việc khám lâm sàng, bác sĩ còn phải thực hiện xét nghiệm máu, chụp X-quang cắt lớp cột sống cổ hoặc đo điện thế hoạt động của cơ.
Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác như chấn thương, thấp khớp, suy tuần hoàn tĩnh mạch hay động mạch (do giảm lượng máu đi và đến các động mạch nhỏ ở ngón tay), có sự chèn ép rễ thần kinh từ trên cột sống cổ, tạo các cơn tê chạy từ cổ hay từ vai xuống bàn tay. Các chứng bệnh viêm thần kinh ngoại biên, thiếu vitamin B1, B6, B12, tiểu đường, di chứng tai biến mạch máu não... cũng có thể gây tê và yếu bàn tay, nhưng thường sẽ kèm thêm nhiều dấu hiệu khác nữa.

Y học gần đây còn phát hiện ra chứng nói lắp và run ngày càng tăng do viêm nhiễm dài ngày hệ thần kinh bởi vi khuẩn Helicobacter pylori (loại thường gây ra viêm loét dạ dày tá tràng).

Việc đầu tiên đối với người bị run tay là nên đến khám tại khoa Nội thần kinh của các bệnh viện lớn và chụp cộng hưởng từ (MRI) để loại trừ khối u ở não. Trường hợp không tìm thấy khối u nào gây ra chứng run tay thì đó là điều đáng mừng. Người bệnh nên rèn luyện tính tự chủ, khắc phục hoàn cảnh, tập trung vào một môn thể thao hoặc thú vui nào đó thì dần dần bệnh sẽ hết. Đôi khi run tay còn là những biểu hiện của rượu. Khi lượng cồn trong máu ở mức 50-150 mg/100 ml thì có sự rối loạn trong suy nghĩ và phối hợp động tác. Nếu bỏ rượu mà vẫn tiếp tục run rẩy thì phải đi khám vì có thể là do một bệnh khác.

Điều chỉnh lại lối sống và cách làm việc để giảm stress, ngủ đầy đủ, luyện tập thể thao, không sử dụng cà phê, trà và thuốc lá là những chất kích thích hệ thần kinh. Trong một số trường hợp có thể sử dụng các loại thực phẩm giàu chất canxi như sữa bò, dùng thuốc ức chế cường giao cảm như Propranolol liều nhỏ và theo chỉ định của bác sĩ điều trị, nếu không có các chống chỉ định như suy tim, hen phế quản, rối loạn dẫn truyền trong tim.

TS. Bùi Mạnh Hà

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.