Bi hài quanh chuyện đám tang

10/03/2010 10:51 GMT+7

(TNTT>) Tổ chức đám tang cho người đã khuất với những nghi lễ trang trọng là điều cần thiết. Tuy nhiên, xung quanh những nghi lễ đó vẫn còn nhiều chuyện cười ra nước mắt... >> Nghi lễ đám tang

Đám tang là cách để thể hiện tấm lòng của người sống với người vừa khuất. Trong đó có sự tiếc thương, đau buồn xuất phát từ tình cảm thật. Nhưng cũng có khi, nhiều người làm đám tang rầm rộ không vì người đang nằm trong quan tài kia, mà vì chính bản thân mình. Lắm lúc, cái chết của người này lại là niềm mong ước, là cơ hội để thể hiện tấm lòng của người kia.

Còn nhớ trong tác phẩm “Số đỏ”, nhà văn Vũ Trọng Phụng đã mô tả rất sắc sảo chuyện đám tang của cụ Cố trong chương “Hạnh phúc một tang gia”. Sự việc cụ Cố nằm xuống đã tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người tranh nhau khoe chức tước, trang phục hay sự hiếu thảo giả dối... mà họ ấp ủ bấy lâu nhưng chưa có dịp thực hiện. Những tưởng các câu chuyện nghịch lý cười ra nước mắt đó chỉ có trong “Số đỏ”, nhưng thực ra lại luôn hiện diện giữa đời thường.

Khổ sở với khóc thuê, hát mướn

Ở nước ngoài, nhất là các nước châu u, nếu trong nhà có người mất thì gia đình lặng lẽ thu xếp, làm tang lễ càng nhanh chóng và yên lặng càng tốt. Nhưng ở Việt Nam, đám tang thường phải long trọng, ồn ào và kéo dài cả tuần lễ. Chuyện khóc trong đám tang cũng có nhiều mâu thuẫn. Đã gọi là đám ma thì ít nhiều thường có nước mắt, nhưng có nhiều nơi “làm quá”, người nhà cứ thay nhau khóc lóc gào thét ầm ĩ suốt ngày đêm, có nhà còn thuê cả đội quân khóc mướn như sợ người ta không biết nhà mình đang có tang. Trong ngõ tôi (29 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội), có một chị vốn ăn ở không được hiếu thuận lắm với mẹ chồng. Khi mẹ chồng còn sống thì than bà sống dai, làm khổ con cháu nhưng khi bà vừa qua đời thì chị la khóc ầm trời: “Ối chúng mày khiêng mẹ tao đi đâu, trả mẹ cho tao ở nhà phụng dưỡng. Mẹ bỏ đi thì con còn ai để mà bưng cơm rót nước mỗi ngày đây?”.

Khi sống không tranh thủ làm những điều tử tế cho nhau thì lúc chết có khóc than, tang viếng long trọng cũng đã muộn

Buồn cười nhất là không khóc cũng không được vì thế nào cũng có lời ra tiếng vào “Xem nó kìa, cha ruột mất mà không thèm nhỏ lấy một giọt nước mắt tiếc thương” hay “Bác gái ấy thật vô phúc, nằm xuống mà con cháu trong nhà cứ dửng dưng thế nào”... dù thực ra có khi người lặng lẽ nhất mới chính là người thương tiếc thật sự. Tâm lý đám tang mà không có tiếng khóc thì sợ người ngoài cười chê, người đã khuất ra đi không thanh thản khiến nhiều nhà phải trông cậy vào đội quân khóc mướn. Đây cũng từng là một nghề khá thịnh hành ở nước ta. Và có cát–xê phân biệt hẳn hoi, “khóc ướt” (khóc có nước mắt) giá khác mà “khóc khô” (khóc không nước mắt) giá khác, tùy theo “nhu cầu sử dụng của khách hàng”.

Cậu bé Tam Mao trong bộ phim truyền hình nổi tiếng của Trung Quốc “Cuộc đời phiêu bạt của Tam Mao” cũng từng làm nghề khóc thuê và thời gian đầu mới “hành nghề”, lúc nào chú ta cũng phải trang bị củ hành trong túi để “khóc ướt”. Theo nhịp sống hiện đại, có nhà tiết kiệm khỏi cần thuê mà dùng tiếng khóc thu băng để bật vào đám ma nhưng cũng có khi “hố hàng” vì băng rè, đĩa xước hoặc bỏ nhầm đĩa băng.

Ở miền Nam, chuyện khóc mướn không phổ biến nhưng lại có dịch vụ tạo tiếng cười trong các đám tang cũng mang nhiều bức xúc. Một số gia đình người Nam bật nhạc cho đám tang sôi động, gần như là đang bật cho đám cưới. Ý nghĩa của việc này không xấu, vì có tang nghĩa là đau buồn, đối với cả người còn sống và đã khuất, nên cần phải xua tan bớt bầu không khí ảm đạm đó để mọi người được thanh thản hơn. Ban đầu, những đám tang vui tươi chỉ xuất hiện trong cộng đồng người Hoa nhưng về sau phổ biến hơn. Đám tang kiểu này không có tiếng khóc bi ai, kể lể não lòng mà chỉ có những câu hát như “Yêu anh, em vượt giông tố” hay “Vội vàng làm chi trách nhau bạc tình”...

Tất nhiên, mọi chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Càng về sau, các đám tang vui tươi này càng trở nên lố bịch khi ban nhạc gồm các anh pê-đê cứ ồn ào kèn trống suốt ngày đêm. Nhiều nhóm pê-đê không giữ được chừng mực, bắt đầu hát những câu bất lịch sự và biểu diễn các trò khó coi khác, mặc kệ có trẻ em trong nhà. Đáng trách hơn là có gia chủ còn hưởng ứng luôn, cha vừa chết mà con thì đầu chít khăn trắng, chân nhảy với pê-đê xinh tươi, bà con hàng xóm đến xem đông như trẩy hội, cười nói rôm rả. Cũng có gia chủ thấy bất bình và xông vào ẩu đả với chính nhóm nhạc pê-đê mà mình đã thuê.

Điều gì còn đọng lại sau đám tang?

Chẳng biết những đám tang như thế, linh hồn người đã khuất có thanh thản được không, nhưng dù làm đám tang theo kiểu khóc lóc nỉ non hay hát múa tưng bừng để tỏ lòng hiếu thảo, tiếc thương của gia chủ thì hàng xóm láng giềng cũng là những người chịu khổ nhất. Nếu là đám tang khóc thì cả ngày lẫn đêm đều phải nghe tiếng khóc và tiếng nhạc “Lâm khốc” của phường bát âm.

Đám tang cười cũng chẳng vui hơn vì yên tâm rằng sẽ được các ban nhạc pê-đê phục vụ suốt đến 3-4 giờ sáng. Bình thường nhà hàng xóm bật đài to còn có thể góp ý nhưng trong đám tang, chẳng ai dám nhắc nhở vì biết gia chủ đang “tang gia bối rối”, đang bận thể hiện lòng hiếu thảo. Vậy nên mới có những người biết mình sắp lâm chung đã cẩn thận làm di chúc, trong đó ghi rõ “yêu cầu làm đám tang cho tôi nhẹ nhàng, đơn giản, nhạc phải tắt sau 10 giờ đêm...” vì sợ cảnh chết rồi mà vẫn còn làm phiền lòng hàng xóm.

Đời người, dẫu cho trăm tuổi rồi cũng ra đi, khi sống không tranh thủ làm những điều tử tế cho nhau, thì lúc chết rồi có khóc than, có ma chay tang viếng long trọng cũng đã muộn. Con người ta một khi nằm xuống là hết, là kết thúc mọi nỗ lực và cố gắng, kết thúc cả những yêu thương và hờn ghen. Khi đó, mọi ân tình lễ nghĩa cũng về với đất, cũng trở thành cát bụi hư vô đi theo người đã khuất mà thôi.

Người xưa lên án đám tang xa hoa

Chuyện đám tang xa hoa của thời phong kiến đã được Tào Tuyết Cần

khắc họa rõ nét trong Hồng lâu mộng, một trong tứ đại danh tác của văn học cổ điển Trung Hoa. Tào Tuyết Cần đã dành hẳn 3 hồi (từ hồi 13 đến hồi 18) để tả việc phung phí trong đám tang của Tần thị, vợ của Giả Dung, con dâu vợ chồng Giả Trân – Vưu thị. Nói về việc chi phí đám ma thì Giả Trân (vốn được tiêu pha xả láng sau khi cha là Giả Kính đi tu) nói: “Lo liệu gì! Chẳng qua có bao nhiêu tiền làm hết bấy nhiêu thì thôi!”.

Về chuyện rườm rà thì Tào Tuyết Cần tả là: “Linh cữu đặt trong nhà 49 ngày. Trong 49 ngày ấy, đặc biệt mời 108 vị sư làm lễ “Đại bi sám” ở nhà đại sảnh để siêu độ vong hồn. Lại đặt riêng một đàn ở lầu Thiên Hương, mời 99 vị đạo sĩ, làm lễ giải oan rửa tội 19 ngày. Rồi rước linh cữu ra vườn Hội Phương. Trước bàn thờ có 50 vị cao tăng, 50 vị cao đạo lập đàn đối nhau, cứ bảy ngày làm lễ một lần”.

Riêng chuyện đặt quan tài thì nhờ Tiết Bàn lấy “gỗ đường, lấy ở núi Thiết Võng, đem làm quan tài thì muôn năm cũng không nát” được Tào Tuyết Cần tả: “Cỗ ván dày tám tấc, vân như vân hạt cau, thơm như mùi bạch đàn, xạ hương, lấy tay gõ kêu “keng, keng” như tiếng vàng tiếng ngọc. Mọi người đều khen lạ”. Chưa hết, để cho Tần thị khi chết cũng được oai, viết linh vị cho đẹp, số chức tước được nhiều thì cha con Giả Trân cũng không tiếc tiền chạy chọt cho Giả Dung được chức “Phòng Hộ nội đình Ngự tiền thị vệ Long Cẩm úy”... Trên đường rước linh cữu là những trạm kết hoa dài vài dặm, từ trong thành ra ngoài thành.

Làm hoành tráng như vậy có làm an ủi vong linh người mất không? Tào Tuyết Cần cho là không vì ông viết rằng trước khi qua đời, Tần thị đã báo mộng cho Vương Hy Phượng (người trông coi đám ma của Tần thị) và khuyên rằng: “Đang lúc thịnh, ta nghĩ cách đề phòng lúc suy”...

Anh Tú

Nhật Minh

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.