Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Quy định về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17.8).

Kỳ họp thứ 6 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương diễn ra vào tháng 5.2026. Tại kỳ họp, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo; đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật các lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, nguyên lãnh đạo tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) có vi phạm (ảnh minh họa)
ẢNH: UBKTTW
Quy định nêu rõ, tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.
Theo quy định, một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật.
Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ 2 hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.
Kỷ luật tổ chức Đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức Đảng.
Đảng viên trong tổ chức Đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức Đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên.
Đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức Đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định.
Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức Đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Cũng theo quy định, đối với tổ chức Đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ; đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.
Quy định số 212 xác định cụ thể các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức Đảng; các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên.
Đáng chú ý, đối với đảng viên, quy định nêu các hành vi vi phạm như cản trở, gây khó khăn cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hợp pháp; nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai, xử lý, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định.
Đồng thời thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái quy định; sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký của người khác, tạo lập, đăng tải, phát tán thông tin trái quy định…
Quy định về thời hiệu kỷ luật
Thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức Đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.
Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Quy định số 212 có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6.7.2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264-QĐ/TW, ngày 14.2.2025 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW.
Bình luận (0)