Cây trồng thay thế trở thành nguồn thu tiền tỉ dưới tán rừng
Tiếng cưa máy vừa dứt, những thân keo được xếp ngay ngắn bên bìa rừng. Sau một vụ khai thác, 4 ha keo lai của gia đình anh Châu Văn Khuynh, ngụ xã Khánh Lâm, tỉnh Cà Mau, mang về hơn 1,2 tỉ đồng. Với người trồng rừng ở U Minh Hạ, mức thu ấy không còn là chuyện hiếm. Nhưng gần 10 năm trước, khi vùng đất này chủ yếu phủ kín tràm bản địa, việc thu tiền tỉ từ rừng gần như là điều rất khó hình dung.
Gia đình anh Khuynh từng nhiều năm gắn bó với cây tràm. Chu kỳ sản xuất kéo dài khoảng 6 năm, cây dễ gãy ngã, giá bán thấp nên thu nhập không đáng kể. Khoảng 8 năm trước, anh quyết định chuyển sang trồng keo lai, chấp nhận bỏ ra khoản đầu tư ban đầu khá lớn để lên liếp chống ngập với chi phí 70 - 100 triệu đồng mỗi hecta. Theo anh, khoản đầu tư này chỉ phát sinh ở chu kỳ đầu. Khi hệ thống liếp đã hoàn thiện, các vụ sau hầu như không còn tốn chi phí cải tạo đất, việc chăm sóc cũng khá nhẹ nhàng.

Diện tích rừng tràm ở U Minh Hạ được chuyển sang trồng keo lai, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân
ẢNH: GIA BÁCH
"Khoảng 4 năm quay lại khai thác, mỗi hecta thu được khoảng 300 triệu đồng. Nhờ cây keo mà nhiều hộ dân dưới lâm phần mới cất được nhà cửa đàng hoàng và bám trụ với đất rừng", anh Khuynh chia sẻ. Đó cũng là câu chuyện đang diễn ra ở nhiều vùng rừng U Minh Hạ.
Ông Trương Trọng Nguyễn, ngụ xã Đá Bạc, cho biết nếu cùng một chu kỳ sản xuất, 1 ha tràm chỉ mang lại khoảng 100 triệu đồng thì keo lai có thể đạt khoảng 300 triệu đồng. Không chỉ cho giá trị cao hơn, gần như toàn bộ cây keo sau khai thác đều được tận dụng làm nguyên liệu, từ thân, cành đến ngọn, thay vì chủ yếu dùng làm cừ như cây tràm trước đây. "Mỗi hộ dưới lâm phần thường có từ 4 - 6 ha đất rừng. Sau một chu kỳ khoảng 4 năm, trừ chi phí vẫn có thể thu về hơn 1 tỉ đồng", ông Nguyễn nói.
Hiệu quả kinh tế khiến diện tích keo lai ngày càng mở rộng. Tại xã Nguyễn Phích, nơi có hơn 12.000 ha đất có rừng, nhiều hộ đã chuyển dần sang trồng keo. Giá keo thương phẩm hiện khoảng 1,2 triệu đồng mỗi tấn. Tổng chi phí đầu tư cho một hecta trong chu kỳ khoảng 5 năm vào khoảng 30 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận bình quân còn hơn 200 triệu đồng mỗi hecta.

Cây keo lai giống được chăm sóc để bảo đảm chất lượng trước khi xuống giống trên đất lâm phần.
ẢNH: GIA BÁCH
Ngoài giá trị kinh tế, keo lai còn được đánh giá phù hợp với điều kiện tự nhiên của U Minh Hạ. Là cây họ đậu, keo có khả năng cố định đạm, góp phần cải tạo đất, hạn chế xói mòn và duy trì độ phì của đất rừng. Nhờ đó, tỷ lệ che phủ rừng tại U Minh hiện đạt trên 70%, cao hơn mức quy định của Chính phủ.
Sau gần một thập niên, keo lai đã trở thành cây trồng mang lại nguồn thu quan trọng cho hàng ngàn hộ dân dưới tán rừng. Tuy nhiên, khi vùng nguyên liệu ngày càng mở rộng, một bài toán mới cũng xuất hiện: Người dân bán được nhiều gỗ hơn nhưng phần lớn giá trị gia tăng vẫn nằm ngoài Cà Mau.

Vùng nguyên liệu keo lai ở U Minh Hạ đang cung cấp lượng lớn gỗ rừng trồng cho thị trường
ẢNH: GIA BÁCH
Muốn làm giàu từ rừng, phải giữ giá trị gỗ ở lại Cà Mau
Hiện Cà Mau có hơn 54.000 ha rừng sản xuất, lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, hơn 18.000 ha là rừng keo lai trồng thâm canh kê liếp. Quy mô này đủ để hình thành vùng nguyên liệu lớn, song phần lớn gỗ sau khai thác vẫn được bán dưới dạng nguyên liệu thô.
Ông Nguyễn Phương Nam, Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết từ khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho phép đưa keo lai vào trồng tại U Minh Hạ, thực tế đã chứng minh đây là loài cây thích nghi tốt, sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao.
Theo ông Nam, nếu chỉ khai thác gỗ nhỏ để bán nguyên liệu thì giá trị kinh tế vẫn còn hạn chế. Đơn vị đang định hướng phát triển rừng gỗ lớn, đồng thời xây dựng các phương án tăng cường chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho gỗ rừng trồng.

Những chuyến ghe chở gỗ keo lai rời rừng sau mỗi vụ khai thác, kết nối vùng nguyên liệu với các cơ sở thu mua
ẢNH: GIA BÁCH
"Chúng tôi đang hướng đến liên kết vùng nguyên liệu với các nhà máy chế biến sâu. Khi chuỗi này hình thành, người trồng rừng sẽ không chỉ bán gỗ theo trọng lượng mà còn có cơ hội hưởng lợi từ các sản phẩm có giá trị cao hơn", ông Nam nói.
Sau chuyến khảo sát tại Cà Mau, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM, nhận định địa phương còn nhiều dư địa để phát triển kinh tế lâm nghiệp nhờ vùng nguyên liệu tập trung và điều kiện tự nhiên phù hợp. Theo ông Mẫn, Hội sẽ đóng vai trò kết nối giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và người trồng rừng nhằm đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị cây keo và tối ưu lợi nhuận cho người dân.

Anh Châu Văn Khuynh kiểm tra sinh trưởng của rừng keo lai trước khi bước vào vụ khai thác
ẢNH: GIA BÁCH
Theo kế hoạch phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững giai đoạn 2026 - 2030, trong năm 2026 Cà Mau đặt mục tiêu có khoảng 95.547 ha rừng tập trung; trồng mới 183 ha, trồng lại sau khai thác 3.985 ha, bảo vệ 43.006 ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, đồng thời dự kiến khai thác khoảng 680.000 m³ gỗ rừng trồng. Nguồn thu từ khai thác gỗ ước đạt khoảng 850 tỉ đồng, khu vực lâm nghiệp phấn đấu tăng trưởng khoảng 4%.
Ở U Minh Hạ hôm nay, người dân không còn băn khoăn nên chọn tràm hay keo. Những cánh rừng đến kỳ khai thác, những ngôi nhà mới dựng lên từ tiền bán gỗ đã chứng minh hiệu quả của sự chuyển đổi. Điều người trồng rừng mong đợi lúc này không phải một loại cây mới, mà là một chuỗi chế biến đủ mạnh để giá trị của mỗi thân gỗ được giữ lại trên chính vùng đất đã tạo ra nó, qua đó tạo nền tảng cho ngành lâm nghiệp Cà Mau phát triển bền vững hơn.
Bình luận (0)