Chìa khóa vàng của kỷ nguyên thịnh vượng

23/02/2026 05:11 GMT+7

Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định việc triển khai Nghị quyết 57 đến nay đã đúng hướng, mạnh mẽ nhưng chưa bứt tốc. Kim chỉ nam cho ngành trong năm 2026 sẽ như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo: Hành động - Đột phá - Lan tỏa kết quả.

Đưa sản phẩm công nghệ "Make in Vietnam" vươn xa

Nghị quyết 57 được ví như "luồng gió mới", mở ra cơ hội để doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực công nghệ mới, phát triển các sản phẩm, dịch vụ "Make in Vietnam" đủ sức cạnh tranh, vươn xa trên thị trường khu vực và thế giới.

Chỉ sau một năm triển khai, nghị quyết đã nhanh chóng đi vào thực tiễn, tạo chuyển biến rõ nét trong hoạt động của nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn. Tại Tập đoàn Viettel, Nghị quyết 57 đã "đi vào đời sống", chuyển hóa thành những hành động cụ thể trong quản trị, sản xuất kinh doanh và nghiên cứu - phát triển. Nhờ đó, doanh thu của tập đoàn tiếp tục tăng trưởng ở mức 2 con số.

Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel, cho rằng Nghị quyết 57 đã tạo ra một không gian chính sách rõ ràng, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. 

"Nghị quyết 57 không chỉ đúng về mặt định hướng, mà còn đúng thời điểm, và quan trọng hơn cả là rất thực tế - bởi nó chạm tới đúng nhu cầu và khát vọng đổi mới của toàn xã hội", ông Thắng nhìn nhận.

Nghị quyết 57 thúc đẩy phát triển công nghệ Việt Nam hướng tới thịnh vượng 2026 - Ảnh 1.

Kỹ sư Nguyễn Chí Linh (giữa), Chủ nhiệm đề tài 5G của Tổng công ty Viettel High Tech, trao đổi cùng các khách hàng nước ngoài tại một triển lãm quốc tế về công nghệ di động

ẢNH: MAI HƯƠNG

Hướng tới mục tiêu trở thành tập đoàn công nghệ số toàn cầu, Viettel đã và đang triển khai 8/11 nhóm công nghệ chiến lược theo Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời xây dựng kế hoạch mở rộng trong thời gian tới. 

Trong lĩnh vực viễn thông, Viettel đã làm chủ toàn bộ hệ sinh thái sản phẩm ở tất cả các lớp mạng 5G, góp phần thực hiện mục tiêu phủ sóng 5G đạt 99% dân số vào năm 2030. Các thiết bị viễn thông 5G do Viettel nghiên cứu, sản xuất đã bước đầu được hợp tác, triển khai tại một số thị trường như Ấn Độ và UAE. Thời gian tới, tập đoàn tiếp tục đầu tư phát triển công nghệ 5G-Advanced và 6G nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Cùng với viễn thông, công nghiệp bán dẫn được xác định là một trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược cần đầu tư dài hạn. Viettel đã hoàn tất các thủ tục pháp lý và chính thức được Chính phủ giao nhiệm vụ triển khai nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao đầu tiên của Việt Nam, dự kiến sẽ đi vào hoạt động và sản xuất chip thương mại từ năm 2030.

"Nghị quyết 57 đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận đối với các lĩnh vực công nghệ mới. Nhiều lĩnh vực trước đây còn mới mẻ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghiệp quốc phòng công nghệ cao nay đã được định hướng rõ ràng, có chính sách cụ thể, có người chịu trách nhiệm", trung tướng Tào Đức Thắng khẳng định.

Không chỉ Viettel, VNPT cũng là doanh nghiệp chủ lực trong triển khai Nghị quyết 57 và các chương trình của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Tập đoàn đang đẩy mạnh đầu tư vào các công nghệ chiến lược như AI, điện toán đám mây, an toàn thông tin, Digital Twin, Edge Computing, chip bán dẫn và 5G/6G.

Năm 2025 đánh dấu bước tiến mới của VNPT với việc chính thức triển khai chiến lược "Go Global", đưa các sản phẩm, giải pháp công nghệ số tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đáng chú ý, VNPT đã đưa vào vận hành tuyến cáp đất quốc tế VSTN dài gần 4.000 km do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ 100%, đồng thời thử nghiệm thành công các công nghệ 5G mới và triển khai internet trên máy bay, từng bước hình thành hệ sinh thái dịch vụ số hiện đại mang tầm quốc tế.

Trong bối cảnh AI toàn cầu tăng tốc mạnh mẽ, VNPT mới đây đã chính thức ra mắt Công ty VNPT AI. Ông Huỳnh Quang Liêm, Tổng giám đốc Tập đoàn VNPT, cho biết: "Việc thành lập VNPT AI thể hiện quyết tâm của tập đoàn trong việc tập trung năng lực AI, phục vụ định hướng chuyển đổi theo mô hình "Data Driven, AI-first", đồng thời góp phần bảo đảm chủ quyền số, giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng công nghệ bên ngoài trong những lĩnh vực then chốt".

Theo lãnh đạo VNPT, VNPT AI được kỳ vọng trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm AI "Make in Vietnam", đưa AI trở thành năng lực cốt lõi và trụ cột tăng trưởng mới của tập đoàn. Mục tiêu đến năm 2030, VNPT AI trở thành thương hiệu AI hàng đầu Việt Nam và hướng tới top 10 khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2035.

Chính sách mở đường, doanh nghiệp bứt tốc

Theo TS Lê Công Lương, Trưởng ban Khoa học và hợp tác quốc tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, nghiên cứu khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi kết quả được đưa vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ đời sống. 

Tuy nhiên, vấn đề rất đáng quan ngại hiện nay là các sản phẩm, các công trình nghiên cứu khoa học không thương mại hóa được do thiếu sự gắn kết giữa các trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.

"Chúng ta cần khuyến khích hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ gắn kết với doanh nghiệp. Cơ chế chính sách cần linh hoạt - thông thoáng - khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm tính đặc thù của hoạt động khoa học (rủi ro cao, chu kỳ dài), vừa khơi dậy tiềm năng sáng tạo to lớn của đội ngũ trí thức, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ dấn thân, cống hiến và tạo ra những giá trị mới cho đất nước", TS Lê Công Lương nêu quan điểm.

Nghị quyết 57 thúc đẩy phát triển công nghệ Việt Nam hướng tới thịnh vượng 2026 - Ảnh 2.

Các kỹ sư của Viettel High Tech trong phòng lab nghiên cứu 5G

ẢNH: Q.H

Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, trung tướng Tào Đức Thắng nói sản phẩm khoa học công nghệ cuối cùng phải giải quyết được vấn đề thực tiễn của xã hội, chứ không chỉ là kết quả nghiên cứu thuần túy. 

Muốn làm được điều đó, trong phát triển khoa học công nghệ, quan trọng nhất là phải hình thành chu trình vận hành khép kín giữa nhà nước - nhà trường/viện nghiên cứu - doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, thúc đẩy cơ chế phối hợp, doanh nghiệp là nơi nắm bắt nhu cầu thị trường và xã hội, từ đó đặt ra bài toán cụ thể. Còn nhà trường và viện nghiên cứu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng và nền tảng tri thức.

Để nghị quyết không dừng lại ở khẩu hiệu, lãnh đạo Viettel khẳng định doanh nghiệp phải là chủ thể kiến tạo sự thay đổi: "Doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở việc hưởng lợi từ chính sách, mà phải chủ động đặt ra những mục tiêu mang tính thách thức, phù hợp với định hướng quốc gia và năng lực của mình".

Với cách tiếp cận toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa định hướng chiến lược và hành động cụ thể, trung tướng Tào Đức Thắng tin tưởng Nghị quyết 57 sẽ trở thành động lực thực sự thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển khoa học công nghệ của đất nước. "Khi doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đủ năng lực và đủ khát vọng, sự phát triển của họ cũng chính là sức mạnh quốc gia," ông khẳng định.

 3 trụ cột để phát triển công nghệ chiến lược

GS Trần Hồng Thái, Phó chủ tịch thường trực Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam (VAST), cho rằng năm 2025 đánh dấu bước ngoặt khi toàn ngành khoa học công nghệ đã triển khai mạnh mẽ Nghị quyết 57. Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo vừa được Quốc hội thông qua cũng đã kịp thời tiếp thu Nghị quyết 57, với nhiều cơ chế đột phá, tạo khung thể chế quan trọng để giải phóng tiềm năng khoa học công nghệ.

Nghị quyết 57 thúc đẩy phát triển công nghệ Việt Nam hướng tới thịnh vượng 2026 - Ảnh 3.

Các kỹ sư của Viettel High Tech trong phòng lab nghiên cứu 5G

ẢNH: Q.H

Thực hiện Nghị quyết 57, ngày 12.6.2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1131/QĐ-TTg, trong đó xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm trọng điểm, từ AI, blockchain đến vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghệ vũ trụ. 

Khi phân tích sâu các nhóm công nghệ này, các nhà khoa học của VAST thấy một điểm chung quan trọng: không thể có công nghệ chiến lược nếu thiếu nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và quá trình tích lũy tri thức dài hạn. Từ nhận thức này, VAST khẳng định phát triển công nghệ chiến lược thực chất là quá trình đầu tư dài hạn, bền bỉ cho khoa học nền tảng và công nghệ lõi.

Đồng thời, VAST đề xuất 3 định hướng chiến lược: Thứ nhất, đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm chuẩn quốc tế, tiến tới phòng thí nghiệm đỉnh cao về công nghệ nền tảng. Đây sẽ là những phòng thí nghiệm mở về cơ chế hoạt động, trang thiết bị và nhân lực, trở thành điểm hội tụ của các nhà khoa học hàng đầu và doanh nghiệp công nghệ. Thứ hai, chuyển đổi từ các dự án hợp tác ngắn hạn, phân tán sang mô hình hợp tác dài hạn với nhóm nghiên cứu quốc tế. Điều này đảm bảo tính liên tục trong tích lũy tri thức và phát triển công nghệ. Thứ ba, gắn chặt hợp tác quốc tế với đào tạo thế hệ nhà khoa học kế cận. Đây là đầu tư chiến lược cho tương lai, đảm bảo xây dựng đội ngũ chuyên gia đủ năng lực làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược.

"Phát triển công nghệ chiến lược không thể đi tắt bằng việc nhập khẩu công nghệ đơn thuần. Nó đòi hỏi con đường dài hơi nhưng bền vững, dựa trên 3 trụ cột: khoa học nền tảng vững chắc, hợp tác quốc tế thực chất và con người chất lượng cao", GS Trần Hồng Thái nhấn mạnh.

Đánh thức "kho báu"

Theo thiếu tướng Vũ Văn Tấn, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an, thực tiễn cho thấy trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, dữ liệu đã trở thành nguồn lực, tài nguyên chiến lược trong kỷ nguyên số, là nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Càng áp dụng khoa học công nghệ để khai thác thì càng tạo ra giá trị mới phục vụ cho người dân, xã hội và nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nền móng vững chắc, cần đảm bảo 3 nguyên tắc cốt lõi. Một là dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống - nghĩa là chính xác, đầy đủ thuộc tính, được làm sạch, loại bỏ trùng lặp và cập nhật theo thời gian thực. Hai là dữ liệu không được là tài sản riêng của từng bộ ngành mà phải được chia sẻ an toàn trên nền tảng thống nhất, phá bỏ tư duy "cát cứ". Ba là dữ liệu phải được bảo vệ nghiêm ngặt về an ninh, an toàn nhưng đồng thời phải được khai thác tối đa để tạo giá trị, tránh tình trạng "kho báu nằm im".

Nếu nhìn vào thực chất, chúng ta mới chỉ ở giai đoạn "xây nền móng bước đầu", tiềm năng khai thác để hình thành các động lực tăng trưởng mới vẫn còn rất lớn. Kinh tế số chiếm 18% GDP vẫn còn xa mục tiêu 30% vào năm 2030. Tỷ lệ giải quyết thủ tục toàn trình chỉ đạt 39% khối bộ và 16,9% khối tỉnh, cho thấy hạ tầng số đã có nhưng mức độ sử dụng còn thấp. Tỷ lệ dân số có chữ ký số chỉ đạt 33%, thấp hơn nhiều mục tiêu 50%. Quan trọng hơn, chúng ta hiện đang có "dữ liệu" nhưng chưa thực sự có "kinh tế dữ liệu" phát triển.

Trước thực trạng trên, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 - 2030, chúng ta phải giải quyết 3 điểm nghẽn quan trọng. Thứ nhất là nghịch lý giữa "có dữ liệu" nhưng "thiếu dữ liệu sử dụng được". Thứ hai là mâu thuẫn giữa "có nền tảng" nhưng "thiếu hệ sinh thái". Và thứ ba là khoảng trống giữa "có công nghệ" nhưng "thiếu công dân số".

Để vượt qua 3 điểm nghẽn này và tạo bước nhảy vọt, Chính phủ cần có một số đột phá chiến lược, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu phổ cập dịch vụ số, phát triển kinh tế số và xã hội số như: thúc đẩy phát triển kinh tế dữ liệu gắn với đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị thông minh gắn với quản trị thông minh dựa trên dữ liệu, xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ hình thành và vận hành trung tâm tài chính quốc tế… Đặc biệt, cần nâng cấp VNeID thành "siêu nền tảng số quốc gia" - trung tâm của hệ sinh thái số.

Tăng tốc triển khai Nghị quyết 57

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, Nghị quyết 57 đã đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng. Nó không còn được xem là lĩnh vực chuyên ngành mà đã trở thành động lực xuyên suốt của phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điểm giá trị nhất và có ý nghĩa lâu dài nhất.

Chuyển động đã diễn ra tương đối đồng bộ, nhất là ở tầng chính sách và thể chế. Một số sản phẩm thuộc nhóm công nghệ chiến lược đã có kết quả khả quan, tạo niềm tin về năng lực tự chủ công nghệ lõi của Việt Nam: tên lửa hành trình, UAV, camera AI đã làm chủ cơ bản công nghệ lõi, tỷ lệ nội địa hóa cao. Về công nghệ y sinh, Việt Nam đã làm chủ một số giống lúa và vắc xin. Về AI, mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt đã được phát triển và đưa vào ứng dụng.

"Có thể đánh giá một năm triển khai Nghị quyết 57 là đúng hướng, chuyển động mạnh mẽ nhưng chưa bứt tốc. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo năm 2026 là năm "Hành động - Đột phá - Lan tỏa kết quả". Chúng ta sẽ lấy đây làm kim chỉ nam cho năm 2026", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định năm 2026 là năm tăng tốc triển khai Nghị quyết 57, chuyển mạnh từ xây dựng thể chế sang tạo kết quả thực chất, có thể đo đếm và lan tỏa, tác động đến tăng trưởng kinh tế, chất lượng cuộc sống người dân. Tập trung nguồn lực cho một số trọng điểm quốc gia thay vì dàn trải. Mỗi lĩnh vực sẽ xác định một số nhiệm vụ mũi nhọn gắn với bài toán phát triển hai con số của đất nước, có sản phẩm đầu ra rõ ràng và có người cụ thể chịu trách nhiệm.

Lực đẩy quan trọng nhất để bứt phá trong năm 2026 là hình thành thị trường đầu ra thông qua cơ chế nhà nước mua kết quả. Thay vì chủ yếu chi ngân sách theo đầu vào và quy trình cho các nhiệm vụ nghiên cứu, cần chuyển mạnh sang đặt hàng sản phẩm, giải pháp, mua sắm và thanh toán theo kết quả đầu ra cụ thể, đo đếm được. Tức là chuyển trọng tâm từ tài trợ quá trình nghiên cứu sang mua kết quả cuối cùng. Cơ chế này buộc hệ thống quản lý chuyển từ "đúng quy trình" sang "đúng mục tiêu", tạo động lực đổi mới thực chất.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.