Chốn sơn khê

30/01/2010 19:24 GMT+7

Lỗi tại mụ ta nhiễu sự. Ai khiến mụ đến đây? Cái xóm nhỏ gồm vài chục nóc nhà, như lũ rệp nép mình bên dãy núi lùn tè, lấy đâu ra làn khói lam chiều, tiếng mõ trâu hòa tiếng sáo diều vi vu của lũ trẻ mục đồng... như các thi nhân đã viết. Nhưng mụ quyết gọi một cách văn vẻ đây là chốn sơn khê cho thỏa sự hào hứng của mụ.

- Mình tìm được một nơi đích thị là chốn sơn khê bấy lâu ao ước, không nghi ngờ gì nữa.  

Giời ạ, nghe sốt ruột. Đây chỉ cách bãi biển du lịch vài trăm mét, lớn bé già trẻ xóm núi kéo nhau ra phục dịch ngoài đó tất, tựa lũ ruồi bâu vào miếng thịt trâu ôi. Họ nghèo kiết xác, nhưng đã dùng bếp dầu, than tổ ong, bói đâu ra làn khói thơ mộng bảng lảng vương vít trên mái rạ? Và lũ trẻ chăn trâu chọi ở đây nghịch hơn lũ giặc, oánh nhau thành thần, dẫu cho ăn kẹo cũng đố thổi được sáo. Khê với chả cháy!      

- Mình cương quyết sống

hết quãng đời còn lại ở nơi êm ả này thôi. 

Ấy là khi mụ nghe tiếng chim bìm bịp da diết kêu sát ngay sau ngôi nhà mới, gần  tảng đá to bằng chiếc giường đôi, án ngữ con đường lên núi. (Mụ đâu biết vợ chồng bìm bịp này là cặp uyên ương duy nhất sống sót sau mấy lần thoát bẫy để vào hũ rượu ngâm thuốc của dân xóm núi). Ngay tức thì, chốn phồn hoa thủ đô bị tiếng chim bìm bịp đánh gục. Mụ quên phứt cái thế giới náo nhiệt ngay khi chân ướt chân ráo về đây.

Thật tội nghiệp cho những ảo tưởng.  

Do mụ có tính hãi người, hay mụ đa sự? Cứ làm như mình là cô tiểu thư khuê các, rèm che trướng rủ hồi còn mồ ma Tiểu thuyết Thứ bảy, không thể dung hòa với cuộc sống đang trở nên hỗn tạp... Chả thế ái nương chưa kịp sửa sang đã dọn thốc ngay về căn nhà nhỏ xíu trong cái xóm núi ẩm ương khỉ ho cò gáy, để tự nhủ rằng đã đi ở ẩn tại chốn sơn khê rồi.

Mà ẩn ai, trốn ai? Ai nhớ thương tìm kiếm mà phải ẩn? Xét theo mặt bưu điện, vài  năm nay tịnh không một mống tri âm nào thư từ với mụ. Xét theo mặt nhân sự, mụ sống dai hơn những anh bạn già ngày xưa từng tơ tưởng chuyện gắn bó. Họ đã rủ nhau đi tiệt. Kẻ bị con cái quắp sang tận chốn trời tây, kẻ chống gậy không thoát khỏi cái cũi giường, người xấu số hơn còn bị mời xuống âm ty thành lập các thứ hội. Còn con cháu mụ mỗi đứa mỗi việc, chỉ chúi mũi vào mê hồn trận của hàng trăm điều lo toan mưu sinh. Vậy nên dù mụ có ở ngay trung tâm thành phố cũng khác gì ốc đảo giữa hoang mạc.

Ai cũng đến hồi bị quên lãng khi vòng quay cuộc chơi đẩy bắn ra bên lề. Quy luật chẳng từ ai. Mụ chấp nhận. Và phàm đã bị quên, có ở giữa chợ cũng cô đơn chẳng kém xó núi, việc gì mụ phải cầu kỳ cái sự ở ẩn đến thế? 

Vâng, còn một điều bí mật mụ chẳng bao giờ nói ra, chỉ mình mụ biết. Mụ giấu rất kỹ. Thì thôi, mụ cứ việc giữ kín những nguyên cớ riêng tư cho mình, miễn sao thấy toại nguyện.

Nhưng nếu mụ chịu ở ẩn, đã đành đi một nhẽ. Đằng này chưa kịp ấm chỗ, mụ bỗng táy máy bày ra những trò vè vớ vẩn khiến dân xóm núi phát hoảng. Người ta kháo nhau rằng, mụ vừa viết chuyện xóm núi in trên báo đấy bà con ơi... 

Quái lạ, xóm núi heo hút có gì đáng để đưa lên báo? Ông trưởng thôn bí mật lên tận thị xã truy tìm tờ báo. Hóa ra mụ viết về cái thời tám hoánh, khi dân xóm núi còn ra biển thả lưới kiếm ăn, cái thời cánh đàn ông trần như nhộng, nồng nỗng vác cà khoeo nghênh ngang đi đánh te, coi thiên hạ bằng củ khoai; chuyện lão ngư dân Phó Văn Cụm từng bắt phi công Mỹ rơi ngoài biển, nhưng bị gán cho tư tưởng cá nhân, đến nỗi hắn nổi điên rồi chết...

Khi túm được tờ báo, dân xóm núi tá hỏa chuyền tay nhau bàn tán um  lên. A, không khéo sẽ tới lúc mụ bới móc chuyện nhà ông, chuyện nhà tôi chứ chẳng chơi. Phải đề phòng mụ mới được.

Rõ khổ, chỉ do cái tính táy máy của mụ. Rỗi việc, lại sẵn có chút chữ nghĩa, mụ lôi ra xài. Rồi gửi báo. Khi chị Miện, người quét dọn sân vườn được thuê đến rỉ rả đến tai, mụ liền ngớ ra:

- Cháu kể cho bà biết thôi nhé. Có đúng bà viết báo, viết đài không? Thì bà cứ viết cái gì hay ho, đừng động chạm đến ai, để tránh tiếng này nọ. Mấy hôm nay cháu cứ ra sức bảo với mọi người rằng bà rất hiền, chẳng có lòng hại ai. Nhưng họ không tin. Hiền lành mà lôi chuyện lão Cụm ra kể?

Mụ sợ toát mồ hôi. Rút kinh nghiệm, từ nay viết chuyện gì tránh địa danh xóm núi, kẻo có ngày phải bị gậy cuốn xéo. 

Chậc, tốt nhất cất béng cây bút vào ngăn kéo cho khuất mắt. Nó cứ nằm trên mặt bàn mời mọc có thánh mà nhịn được. Xong rồi. Nằm yên đấy. Cho lũ mọt ngăn kéo quản lý mày.

Xóm núi yên ắng một dạo. Thấy mụ ngày ngày tản bộ ra bãi biển, người ta hài lòng. Đi bộ là hình thức thể dục nhẹ nhàng hợp với tuổi mụ. Có thể biển sẽ khiến mụ xì hơi, xoa dịu những kích động còn tồn dư trong người. Hãy nhìn mặt biển mênh mông để thấy cái nhỏ nhoi của thân phận con người, để nhận ra cái vô nghĩa trong mỗi mơ ước.

Bờ biển phía bên kia đường giờ thuộc thế giới các hàng quán, sang trọng lẫn tầm tầm. Các em gái từ mọi ngả đổ về kiếm sống, chân dài có, chân ngắn ngủn cũng có, nhưng em nào cũng sẵn số vốn trời cho giống nhau. Đằng sau màu móng chân sơn đỏ, còn ánh lên màu vàng ruộm của bùn phèn. Họ cười ngây thơ, dặt dẹo trên những đôi giày cao gót, diễu dọc bờ biển từng đàn.

Không rõ vì lý do gì mụ làm quen với một cô gái vừa từ Hòa Bình xuống. Mụ lại lân la làm quen cả bà chủ cô ta, qua một người xóm núi rửa bát thuê. Mụ ngã giá với bà chủ: Cô gái sẽ theo người rửa bát tới nhà mụ vào sáng thứ hai, thứ ba đầu tuần, khi quán vắng khách. Mụ sẽ trả tiền cho chủ quán, y như những lượt đi khách của cô bé.

Nể lắm bà chủ mới đồng ý.

Nhưng để làm gì? Bà chủ tra hỏi lúc cô gái ở nhà mụ về. Thưa mẹ, chẳng phải làm gì cả, chỉ cởi quần áo rồi đứng trên tảng đá ngoài vườn cho bà ấy vẽ thôi.

Dân xóm núi còn thắc mắc gấp mấy bà chủ nhà hàng. Con ruồi bay vào xóm này còn bị nhận ra huống hồ một cô gái mắt xanh mỏ đỏ ngồn ngộn sức sống, áo quần khiêu gợi thế kia. Cô ta đi đâu? Ai trong xóm núi liên quan tới cô gái này?

Không lâu sau người ta biết hết. Rồi xì xào như ve mùa hè. Chết chửa, có đời thuở nhà ai lột quần áo con người ta ra vẽ không? Giả dụ mụ là đàn ông, nó rõ ra một nhẽ. Đằng này... Không giải thích nổi. Đích thị mụ có vấn đề, nghiêm trọng chứ chẳng chơi.

Chị Miện được người ta bắt dò xét mọi hành tung của mụ. Vẽ làm gì? Bán cho ai? Làm cách nào chụp lấy những bức hình khả ố đó để báo cáo chính quyền, công an  giờ?

Đến ngọn nguồn, người xóm núi ớ ra khi biết mụ đang chuẩn bị tham gia một cuộc triển lãm tranh. Cô gái được vẽ vào bức tranh Hoa Bèo, đứng lõa thể trước sóng biển, mây gió vần vũ chung quanh, tay cầm bông bèo tím, dưới chân vương những cụm bèo xanh trôi giạt từ cửa sông nào... Hẳn mụ thương cảm thân phận bao thiếu nữ bèo bọt đã bị hoàn cảnh xô đẩy ra tới bờ biển.

Bằng vào những chuyện rủ rỉ to nhỏ của chị Miện, mụ chợt hiểu chốn sơn khê của mụ đâu phải nơi ở ẩn ngon lành. Tức thì mụ cất cọ vẽ, cất luôn mấy bức toan còn trắng tinh và viết thư di chúc cho hai con gái. Các con cố giữ lấy những bức tranh mẹ vẽ, để làm kỷ niệm. Không phải vì sau khi mẹ chết, chúng được giá cao hơn, mà vì mãi mãi không có người nào vẽ như mẹ vẽ. Chúng quý ở chỗ là sản phẩm sáng tạo duy nhất, của một người duy nhất.

Mụ dặn cho yên lòng. Chứ sau khi mụ hai tay buông xuôi, chúng có mang che cửa sổ bếp cũng đành thôi. 

Không còn việc gì làm, mụ dành thời gian đi quanh xóm thăm thú mọi nhà. Đến đâu người ta bỏ công việc đang dở ra đón tiếp.

- Quý hóa quá, rồng đến nhà tôm. Bà sang chơi hay có việc gì cần chúng em đấy ạ?

- Không, tôi chỉ sang chơi thăm hai bác, chỗ lân bang láng giềng... Ấy chết, hai bác cứ vá lưới đi. Thấy mọi người có công ăn việc làm, tôi mừng.

- Vâng, vá thuê cho người ta, vá víu suốt ngày... Chúng em có còn đi biển đâu. Giờ vẫn đi biển chắc chết đói. Thuyền phải to, đánh bắt phải ra khơi xa, chứ cá mú ven bờ lớn bé gì cũng đã tiệt chủng rồi bà ạ.

Mụ qua hết lượt xóm núi, nghe được bao nhiêu chuyện. Cái Gái sắp lấy chồng Đài Loan, phải vay nợ đi xóa vết ve mắt. Ai ngờ phẫu thuật thẩm mỹ xong, hôn phu Đài Loan đã kịp về nước với cô vợ khác. Thằng Tí học lái xe ra trường, phải bán nửa mảnh vườn lấy tiền ký quỹ vào công ty. Người mua khu vườn đào móng xây nhà, trúng được hũ bạc hoa xòe, giá trị gấp mấy mươi lần tiền mua vườn. Thằng Tí chết đắng. Cô Bân giặt chăn ga cho một nhà hàng, hôm nọ vớ được hai trăm đô la khách đánh rơi, bị gã chủ lột hết, lại còn vu cho tội ăn cắp. Cô Bân ức quá treo cổ tự tử, may đứa con la làng người ta đến cứu kịp...       

Dù có những bi kịch nhỏ bé ấy, chốn sơn khê của mụ vẫn không khiến người ta phải khiếp đảm. Đâu có như cái đêm hãi hùng nọ...

Đêm ấy...

Ngôi nhà mụ nằm trong ngõ nhỏ một khu cán bộ cấp xoàng ngày xưa, gần trung tâm, trước có giá lắm. Giờ cư dân tạp nham, đi ra ngõ phải nhìn xuống chân, tránh bao cao su vứt khắp chốn. Mụ ít khi ra cổng, chỉ ru rú tại nhà. Bởi thỉnh thoảng lại gặp mấy quý tử hàng xóm mình trần trùng trục, đầu cạo trắng hếu, một tai đeo vòng bạc, cứ trợn mắt nhìn mình, không ra chào hỏi không ra đe dọa, mụ thấy ngán lắm. Còn may chưa xảy điều gì nghiêm trọng, ngoại trừ vài chiếc xe đạp mất cắp, vài bộ quần áo phơi bị bay hơi...

Đêm ấy mụ vừa chợp ngủ thì tiếng la hét rầm rĩ ngay sát cửa khiến mụ ngồi bật dậy. Sao thế? Sao có tiếng kêu la đau đớn lẫn tiếng đánh đập huỳnh huỵch thế? Mụ luýnh quýnh chạy ra bật đèn hiên, mở cửa nhìn. Cửa ngõ vẫn đóng nên mụ không lo lắm. Nhưng cảnh tượng chứng kiến khiến tim mụ muốn rụng xuống. Ba thằng thanh niên lực lưỡng, đeo khuyên tai, cánh tay cuồn cuộn hình đại bàng, cùng hai gã trung tuổi làm nghề thu mua chó, kẻ giữ người đánh một thanh niên ốm o đang van lạy như tế sao.                 

- Ôi giời ơi, con van các ông, con chết mất.

- Mẹ mày. Chúng ông đánh chết mày, không đưa đi đâu cả.

- Ối bà con ơi, cứu con với, con có làm gì đâu.

- Này, cứu này, cứu này!

Mụ níu chấn song cửa, gào toáng cho những người đang hờ hững đứng xem quanh đó.

- Các ông các bà can họ đi chứ. Giời ơi, đánh chết người ta kìa!

Nhưng tất cả giương mắt nhìn mụ lặng thinh. Một thằng đeo khuyên tai dừng tay, nhìn mụ trừng trừng, quát:

- Bà vào nhà đi, liên can gì đến bà, rách việc!

Mụ sợ đến giọng líu lại, nhưng cố van nài:

- Nó tội gì các anh giải nó lên đồn công an, chứ đánh thế kia nó chết mất.

- Đêm hôm lảng vảng quanh đây không ăn trộm thì làm gì? Khu này mới mất xe tối nọ, bà không biết hả? Việc gì phải giải đi! 

Gã thanh niên bị đánh thấy có người lên tiếng liền lấy hết sức tàn hét lên:

- Con không ăn trộm... Con đi tìm nhà người quen, lạc vào khu này thôi. Con lạy các ông các bà...

Chưa kịp nói hết câu, đã bị thằng to khỏe nhất bọn bóp cổ, đập đầu vào tường.

Mụ rú lên khi thấy máu vọt ra. Gã thanh niên rũ như tàu lá úa, ngã xuống bất tỉnh.

Hôm sau mụ ra chợ cóc, nghe người ta kháo nhau có xác chết vô thừa nhận bị vứt cạnh mương nước, vừa được mang đi.      

Ngay lập tức, mụ khóa cửa lên trú ở nhà con gái. Chẳng biết công an có đến dò hỏi vụ việc ấy không. Vả nếu có, liệu mụ có dám báo cho họ biết sự tình, chỉ mặt những thằng đeo khuyên ở ngay cạnh nhà mụ? Xem ra mụ cũng như tất cả mọi người,  đều sẽ im như thóc.

Mấy đêm liền mụ không ngủ được. Hơi có tiếng động bên ngoài, lập tức mụ chồm dậy hốt hoảng. Mụ hình dung những gã thanh niên tiêm chích, cờ bạc, lang thang vạ vật từ những xóm nghèo ngoại ô, từ mảnh ruộng vườn khô cằn ra tỉnh làm cửu vạn, những sinh linh khốn khổ của Chúa, đang sống kiếp đọa đày trước sự dửng dưng của đồng loại đô thị. Cuối cùng chúng sẽ bị vứt còng queo ở những bờ mương, xó rãnh...    

Sau đêm ấy, mụ bị khủng hoảng thần kinh. Mụ nhớ lại từng dòng tin báo đã đọc qua. Tội ác ngày càng... trẻ hóa! Hai đứa bé hơn mười tuổi giết chết bé năm tuổi vì muốn đòi tiền chuộc. Cháu thắt cổ bà, con đâm bố, thiếu nữ cứa cổ người tình... Thì đấy, người ta đập chết một con người ngay trước mắt mụ, chẳng cần phải biết kẻ ấy có tội hay không.

Và mụ quyết rời bỏ thành phố, đi về chốn sơn khê sống nốt quãng đời còn lại.

Mụ vẫn lấy làm may mắn đã mua được ngôi nhà xóm núi ở đây. Dù mấy ngày qua vợ chồng bìm bịp biến mất khiến xóm núi lạnh lẽo hẳn đi, nhưng mụ sẽ mua một đôi cu gáy treo trước hiên để thay thế. Mụ cố nghĩ rằng đôi bìm bịp chỉ đang ấp trứng ở đâu đó... 

Nhưng hôm nay mới bảnh mắt đã thấy bà Thản, một người dân xóm núi, mếu máo bước thấp bước cao chạy đến nhà mụ.

- Bà ơi, bà cứu cháu. Bà có chữ nghĩa, may ra cứu được mẹ con cháu. Bà viết cho cháu cái đơn, để cháu nhẹ bớt tội đi.

Chuyện thằng Tí, con rể bà, chạy xe gạo chẳng may cán chết người. Giờ nó phải tường trình trước khi người ta đưa ra tòa.

- Bà cứ bảo nó sang đây kể đầu đuôi tôi nghe.

Thằng Tí sang, kể đầu đuôi câu chuyện bằng giọng ầng ậng nước mắt. Nó tránh đường cho xe cẩu, bị lạng tay lái, cán chết người đàn ông thồ xe rau. Nhưng mắc míu ở chỗ nó không giải thích được chuyện nó lùi xe lại, cán lần thứ hai qua người nạn nhân.

- Bà viết hộ cháu, vì cuống quá đã mất trí, lùi xe lại. Liệu có được không hở bà?

- Cậu mất trí? Giá cậu dừng kịp, có thể ông ấy không chết.

Tí im lặng một chút rồi nhìn thẳng vào mắt mụ, trả lời rất thành thực:

- Cháu làm thế vì biết ông ta vẫn còn ngắc ngoải. Bị nghiến qua người lần nữa, ông ta mới chết hẳn. Việc ấy nhiều người trông rõ... thành thử cháu phải khai thế nào cho thật khéo...

- Sao lại thế?

- Cán chết người theo luật chúng cháu chỉ phải đền hai nhăm triệu thôi bà ạ. Nhưng họ tàn tật, bán thân bất toại, thì mình phải chạy chữa, thuốc thang gấp mấy lần hai nhăm triệu cơ.

Mụ đánh rơi cây bút. Thật là người ta có thể tính toán vậy sao?

Lúc mụ đang còn sởn cả chân tóc thì nghe tiếng kèn đám ma nổi lên. Từ khi về đây, mụ chưa từng thấy kèn đám ma. Mụ cứ nghĩ dân xóm núi chuyện hiếu sự chỉ qua quýt, không ai cầu kỳ cái việc kèn trống. Vậy nhà nào lại đình đám thế?

Tí thấy mụ lắng tai nghe liền mau miệng:

- Là nhà ông Thuấn, cái nhà xây đá ong cuối xóm bà ạ.

- Ai chết hở cậu?

- Chính ông Thuấn đấy. Ông ấy làm chức gì to lắm ở huyện, mắc chuyện tiền nong đất cát khó gỡ tội nên về nhà treo cổ tối hôm kia.

Giời ơi, chốn sơn khê là thế này sao?

Đây có còn là nơi người ta nghĩ chuyện ở ẩn không?

***

Những ngày tháng bảy mưa ngâu buồn bã. Ngồi bên khung cửa sổ nhìn núi non mưa giăng, mụ mơ màng chợt nhớ có người mách một mảnh đất tận Tân

Sơn - Lục Ngạn, cũng núi, cũng suối, rất thơ mộng... Nhưng

biết sơn khê ấy có còn xịn hơn nơi đây không?

Rồi mùa thu đến nhanh quá đi thôi. Trăng xóm núi thật dịu dàng trong vắt.

Trăng núi phải thế chứ...

Mùa thu gợi nhớ đến một đêm trăng vằng vặc, có người đàn ông yêu dấu đã nồng nàn hỏi: Em ơi, em làm vợ anh nhé? Người đàn bà run rẩy trong đêm, khẽ gật. Ôi những đêm tháng tám mùa thu xa xưa. Tại sao nó lẩn quất trở lại, hôi hổi như người ta vừa mới sống ngày hôm trước? Nó khiến mụ lãng đãng suốt mùa thu, không còn lòng dạ nào nghĩ đến chuyện gì khác.

Mùa đông qua đi vẫn thấy mụ trụ lại xóm núi. Cho đến khi cây gạo phía sau nhà nở hoa đỏ rực, thắp muôn vàn ngọn lửa giữa buổi sớm chưa dứt mưa xuân...

Mụ đứng lặng, ngây người ngắm nó. Từ khi chuyển về chốn sơn khê, mụ chưa có dịp chứng kiến mùa hoa gạo nở. Giờ nó bỗng đỏ bùng lên, thổn thức bên triền núi xanh yên tĩnh.

Không! Dù thế nào thì thiên nhiên xóm núi cũng không để cho ai dứt tình mà đi...

Mụ biết chắc mình không cầm lòng được, sẽ lại lôi bức toan trắng với tuýp sơn dầu cất trong xó nhà, khai bút đầu xuân.

Với cây gạo mùa xuân, mụ không phải lo né tránh các công trình phụ của những cô gái... 

Truyện ngắn của Đoàn Lê

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.