Chứng lồi mắt trong bệnh Basedow

30/07/2005 15:42 GMT+7

Trong bệnh Basedow, lồi mắt là dấu hiệu hay gặp nhất. Theo y văn, trong những năm đầu thế kỷ 20, dấu hiệu này có ở gần như 100% các trường hợp Basedow; ngày nay theo những công trình nghiên cứu mới nhất, dấu hiệu lồi mắt gặp được trong 40-45% trường hợp. Chính vì vậy, người ta còn gọi bệnh Basedow với một cái tên khác là bệnh bướu cổ lồi mắt.

Bên cạnh bướu cổ làm mất vẻ đẹp của người phụ nữ, chứng lồi mắt cũng làm cho nhiều bệnh nhân mất ăn, mất ngủ và rất nhiều bệnh nhân đã yêu cầu bác sĩ tìm cách điều trị cho mình. Nguyên nhân cơ bản của căn bệnh này là do thâm nhiễm tế bào Lympho đi kèm với sự phù nề của các mô và ở hốc mắt và sau nhãn cầu gây ra. Những thành phần này đẩy nhãn cầu ra phía trước làm cho mắt bị lồi, khác với lồi mắt trong bệnh cận thị.

Các biểu hiện đi kèm với chứng lồi mắt

Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp. Đi kèm với chứng lồi mắt, bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt sống, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc nóng rát. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc - nguyên nhân gây mù lòa vĩnh viễn. Ánh mắt bệnh nhân thường long lanh rực rỡ hơn bình thường, có cái nhìn chăm chú, ít chớp mắt, người bệnh thường không nhắm kín mắt khi ngủ. Trong thực hành bệnh viện, các bác sĩ hay áp dụng bảng phân loại Werner của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ với 6 mức độ. Độ 1 và 2  là nhẹ, độ 3 là vừa, độ 4-6 là nặng.

Với những trường hợp khó khăn trong chẩn đoán và phân loại, người ta sử dụng thước đo độ lồi mắt Hertel. Độ lồi mắt khác nhau tùy theo chủng tộc và dân tộc, ở người Việt Nam bình thường độ lồi mắt vào khoảng 12mm, độ lồi tăng lên trong bệnh nhân Basedow.

Các phương pháp điều trị

Ở một số trường hợp, chứng lồi mắt có thể thay đổi cùng với tiến triển của bệnh sau khi điều trị. Khoảng 30% bệnh nhân sẽ hết lồi mắt sau khi phẫu thuật, thường là những bệnh nhân lồi mắt ở mức độ nhẹ và vừa.

Có 3 phương pháp điều trị chứng lồi mắt, gồm: sử dụng thuốc Corticoides liều cao, xạ trị và phẫu thuật. Với những bệnh nhân lồi mắt độ 1, thường không cần phải điều trị. Những bệnh nhân lồi mắt độ 2, việc điều trị bao gồm:
- Đeo kính sẫm màu.
- Nhỏ hoặc tra các loại pomade nước mắt nhân tạo để tránh biến chứng khô giác mạc.
- Nhỏ một loại thuốc nước đặc biệt để làm giảm mức độ cường cơ vận nhãn. Thuốc này được cho theo chỉ định của bác sĩ nhãn khoa.

Những bệnh nhân lồi mắt từ độ 3 trở lên, việc điều trị phức tạp hơn nhiều và không phải lúc nào cũng có hiệu quả:
- Thuốc Corticoides liều cao như Prednisone 100 mg/ngày (20 viên), từ 5-7 tuần. Tuy nhiên cần chú ý khả năng dung nạp kém với Corticoides ở người Việt Nam so với bệnh nhân phương Tây. Biến chứng hay gặp nhất của việc sử dụng thuốc là viêm loét dạ dày, có thể gây xuất huyết tiêu hóa và phù do giữ nước.

- Xạ trị: Dùng máy tạo chất phóng xạ chiếu vào vùng hốc mắt, tuy nhiên phương pháp này chỉ có hiệu quả điều trị lồi mắt trong giai đoạn sớm và không có tác dụng trong giai đoạn sẹo đã hình thành phía sau hốc mắt.

- Điều trị bằng phẫu thuật: Được sử dụng cho những trường hợp thất bại với điều trị bằng Corticoides và xạ trị, bao gồm: 1. Khâu cò mí mắt: nhằm làm giảm độ hở của mi mắt. 2. Phẫu thuật chỉnh hình làm giảm độ co rút của cơ vận nhãn. 3. Phẫu thuật làm giải áp hốc mắt trong những trường hợp lồi mắt ác tính có tổn thương thần kinh thị giác gây giảm và mất thị lực hoặc do yêu cầu thẩm mỹ của bệnh nhân. 4. Phẫu thuật tạo hình sau giải áp hốc mắt.

Tất cả những phẫu thuật này được thực hiện bởi các bác sĩ nhãn khoa và tạo hình.
Tại Việt Nam, việc điều trị các chứng lồi mắt trong bệnh Basedow mới được chú ý trong một vài năm gần đây nhưng chưa thường quy và chưa có trung tâm hay bác sĩ nào chuyên về vấn đề này.

Phó giáo sư - TS-BS Nguyễn Hoài Nam
(Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh)

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.