Đã đi với Nhân dân thì thơ không thể khác
Đến tận cùng máu thịt, Phùng Quán chỉ biết yêu đất nước, cống hiến đến tận cùng cho chế độ mà anh tôn thờ. Nổi tiếng từ rất sớm. Năm 1953 khi mới 22 tuổi, vừa từ người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, không hề được học hành Phùng Quán đã viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo gây xúc động bạn đọc bao thế hệ, rồi trường ca Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo về nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Ngay từ thiếu thời, mới 14 tuổi, anh đã dấn thân theo cách mạng. Từ chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân do Hà Văn Lâu làm chính ủy, đến làm anh Vệ quốc quân mặt trận Bình Trị Thiên khói lửa. Và cũng từ đó, đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác. Lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa Cộng sản trong Phùng Quán lạ lùng, kiên định. 32 năm sau ngày bị án “nhân văn”, Phùng Quán vẫn cho ra đời Tuổi thơ dữ dội gây xúc động về chính cuộc đời và đồng đội mình.
Là nhà thơ chiến sĩ. Nhưng là chiến sĩ làm thơ để chiến đấu và hy sinh cho đất nước, xả thân cho Đảng, cho chế độ, ngay cả trong tình cảm riêng tư, cảm hứng của lòng yêu nước vẫn cháy bỏng: Nhưng dù chết em ơi!/Yêu em anh không thể/Hôn em bằng đôi môi/Của một người nô lệ! - (Hôn).
Bài thơ Chống tham ô lãng phí năm in năm 1956 đã có một thời bị coi là “nói xấu, bôi nhọ chế độ”, nhưng bây giờ đọc lại mới thấy cái chí khí của ông, tâm huyết của ông với Cách mạng, với Đảng. Những câu thơ giờ đọc lại vẫn thấy nóng hổi tính thời sự: Trung ương Đảng ơi/Lũ chuột mặt người chưa hết/Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt/Có tôi/Đi trong hàng ngũ tiên phong.
Ông chiến đấu với tất cả những gì không thuộc về nhân dân, không thuộc về Tổ quốc: Tôi muốn làm nhà thơ chân thật/Chân thật trọn đời.
Cả cuộc đời của mình, Phùng Quán đã sống cho tình yêu Đất Nước và cho Thơ. Ông là nhà văn của những thiên anh hùng ca cách mạng. Đóng góp của ông cho văn học và cách mạng nước nhà đã được ghi nhận qua Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật vừa được truy tặng sau mười hai năm ông nằm xuống.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết về Phùng Quán những câu thơ rất thật khi đưa tiễn người đồng hương: Cuộc viễn du nào buồn đến vậy/ Người hùng thời niên thiếu của tôi ơi!
“Thơ văn Phùng Quán từ hồi anh có mặt trong hàng ngũ những nhà thơ lớn chưa hề có nửa chữ nào phản lại nhân dân...” - Thu Bồn từng viết như vậy về ông.
Và tình yêu cay đắng lẫn ngọt ngào
Đó là một tình yêu đẹp và lãng mạn bậc nhất có thể viết thành cuốn tiểu thuyết xúc động. Cái thời Phùng Quán từ anh Vệ quốc đoàn về làm văn nghệ ở Hà Nội cũng là thời kỳ đời ông gặp ngang trái... Trong hoàn cảnh bi đát thế vẫn có một cô giáo trẻ người Hà Nội gốc, nhà phố Hàng Cân đem lòng yêu ông.
Bà Bội Trâm hồi tưởng về tình yêu đầy sóng gió của hai người: “Em trai tôi cũng là nghệ sĩ quân đội. Anh Quán quen em tôi trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Quán về nhà tôi được bố mẹ tôi coi như con cái trong nhà. Thế rồi một hôm Quán bảo bạn: “Tớ yêu chị cậu mất rồi...”.
Bà Trâm kể tiếp: “Nhưng rồi cái án văn chương ập xuống đời khi anh viết Lời mẹ dặn. Anh bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị cho ra khỏi quân đội. Đó là tai nạn quá lớn giáng xuống đầu người thanh niên 25 tuổi sau vinh quang của Vượt Côn Đảo. Anh rơi vào cảnh “tứ cô vô thân”, cha hy sinh trong ngục khi anh mới biết bò, mẹ thì ở Huế, bên kia giới tuyến. Bạn bè, người thân sợ liên lụy xa lánh. Có lúc anh bảo sẽ vào Quảng Bình sống. “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống. Mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì... thôi”. Nhiều lần anh đã nghĩ đến cái chết. Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi anh đã nói rất... liều: Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ/ Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.
“Lúc ấy anh Quán ốm lắm. Thương anh quá tôi đành xin mẹ lấy anh để có điều kiện cận kề chăm sóc anh. Tôi yêu anh với cả cuộc đời tôi vì thơ anh yêu nước, yêu chế độ này quá đỗi. Không đồng cảm và yêu anh hơn yêu bản thân mình, tôi đã không lấy anh. Cả những khi cuộc đời bi đát thế mà lòng anh như không hề vướng bận, hờn oán ai. Lấy anh tôi phải phân thân giữa bên tình, bên hiếu. Bố mẹ thương con gái, sợ tôi vì anh mà khổ một đời, nhưng tôi đã quyết... Thương con, bố mẹ tôi đồng ý. Tôi lấy anh không có đám cưới như bao bạn bè trang lứa”.
Nói rồi bà lại tủ lấy cho tôi xem tấm bưu thiếp có chữ viết của Phùng Quán nắn nót. Bút tích Quán còn đây, vì người Huế viết sai dấu “hỏi” thành “ngã”: Kính gữi cô! Chúng em đã ra ở riêng ngày 12.1.1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô, mong cô chia vui và mừng cho Hạnh phúc của chúng em.
Học trò của cô
Vũ Bội Trâm
Phùng Quán
Bà bảo đó là thiệp báo hỷ gửi cho cô giáo Mai Vũ Từ dạy văn khi bà học ở trường Trưng Vương. Tấm thiệp báo hỷ này, ba mươi năm sau cô giáo tôi còn giữ được và mới đây cô tặng lại bà để ghi dấu về chuyện tình éo le ấy.
“Báo hỷ là bởi không thể làm lễ cưới, vì không ai đứng tên nhà trai. Rồi tên anh Quán in lên thiếp mời thế nào được? Lại còn chuyện anh em tôi sợ ảnh hưởng đến công tác vì lý lịch chồng tôi... Rồi họ mạc nghĩ sao khi tôi lấy anh. Cuối cùng tôi chọn cách chia trầu cau biếu họ hàng, láng giềng như là việc “dạm ngõ” xong rồi báo hỷ”.
Nghe nói anh Quán có số đào hoa? - Tôi hỏi vui, nhưng chị Trâm thì thật thà: Thì cũng có chuyện cô này cô nọ. Có cô trẻ đẹp lắm, đến với anh cả khi anh đã râu tóc... Cô ta hỏi anh có yêu em không?, anh đều bảo: Yêu thế nào được, tôi vợ con rồi, còn em thì chưa chồng... Các cô gái còn ghen nhau, chửi nhau viết thư tình cho anh dữ dội lắm (cười). Tôi bảo: tôi không chửi nhau với các cô thì thôi, sao lại chửi nhau ghen nhau?. Anh Quán chỉ yêu cho thơ thôi. Anh là của tôi, bởi anh cần tâm hồn đồng điệu sẻ chia cùng anh suốt bao năm tháng cuộc đời.
Nhưng có cô nào làm anh xiêu lòng? “Ai biết ma ăn cỗ, nhưng tôi tin anh. Anh không thể đánh đổi. Anh bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ. Anh viết tặng tôi bài Kinh cầu nguyện buổi sáng: "Tôi sẽ đi với em/Cho đến mút chót con đường/... Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền/Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường/Tôi sẽ bị trời tru đất diệt/Em là cây Thập tự của đời tôi/Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc..." Anh bảo đây là bài thơ tình hay nhất của anh.
Vâng! Phùng Quán đã sống và yêu đến tận cùng máu thịt. Tình yêu của ông với đất nước, với chế độ, cũng như tình riêng với người vợ hiền của mình, trong ông trước sau như một. Có thể nói đấy là tình yêu đích thực, một tình yêu mà người ta dám hy sinh cả cuộc đời.
Tân Linh
Bình luận (0)