Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ tư

05/01/2011 08:51 GMT+7

Hơn 16 năm qua, kể từ Đại hội lần thứ III đến Đại hội lần thứ IV của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng và đã giành được thắng lợi vẻ vang. Tổ quốc ta đã sạch bóng quân thù và hoàn toàn thống nhất.

Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất, thực hiện chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa. Những yêu cầu mới của cách mạng đang đặt ra đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đã họp trù bị từ ngày 29.11 đến ngày 10.12.1976. Từ ngày 14 đến ngày 20.12.1976, Đại hội họp công khai tại Thủ đô Hà Nội. 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên của 38 đảng bộ tỉnh, thành và cơ quan trực thuộc Trung ương trong cả nước đã về dự Đại hội.

Trong số đại biểu có 214 đại biểu vào Đảng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, 200 đại biểu đã từng bị đế quốc giam cầm, 39 đại biểu là anh hùng các lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 142 đại biểu là nữ, 98 đại biểu thuộc dân tộc thiểu số... Đến dự Đại hội có 29 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản, đảng công nhân, của phong trào giải phóng dân tộc và các tổ chức quốc tế.

Thời gian: Từ 14 đến 20.12.1976

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 1.550.000

Số lượng tham dự Đại hội: 1.008 đại biểu

Tổng bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

Ban Chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội: 101 ủy viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 14 ủy viên

Nhiệm vụ chính: Là Đại hội thống nhất đất nước - cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã họp 12 lần để quyết định các vấn đề quan trọng của Đảng và Nhà nước ta; trong đó có việc khắc phục các sai lầm, khuyết điểm trong quản lý kinh tế-xã hội của nước ta, thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã.

Đại hội nghe Diễn văn khai mạc của Tôn Đức Thắng; Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Lê Duẩn trình bày; Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước năm năm lần thứ hai (1976-1980) do Phạm Văn Đồng trình bày; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng do Lê Đức Thọ trình bày; và các tham luận của Trường Chinh, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn...; cùng lời chào mừng của các đoàn đại biểu trong nước và quốc tế.

Báo cáo chính trị nêu rõ trong hơn 16 năm qua, nhân dân ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược lớn nhất và ác liệt nhất của đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, đã chiến đấu anh dũng và thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX. Thắng lợi đó là kết quả tổng hợp của một loạt nhân tố tạo nên. Đó là sự lãnh đạo của Đảng ta với đường lối, phương pháp cách mạng và chiến tranh cách mạng đúng đắn và sáng tạo; cuộc chiến đấu đầy gian khổ, bền bỉ và thông minh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của các đảng bộ, của cán bộ, chiến sĩ công tác và chiến đấu ở miền Nam và của hàng triệu đồng bào yêu nước trên tuyến đầu Tổ quốc; sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, vừa huy động ngày càng nhiều sức người, sức của cho cuộc chiến đấu trên chiến trường miền Nam; sự đoàn kết liên minh chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia và sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, của giai cấp công nhân và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới...

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm lớn:

1. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phương lớn, động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, toàn quân vào cuộc chiến đấu cứu nước.

2. Nắm vững và vận dụng đúng đắn chiến lược tiến công, đẩy lùi địch từng bước. Không ngừng củng cố trận địa cách mạng, tạo thế và lực hơn hẳn địch để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

3. Ra sức xây dựng và tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước, đặc biệt hết sức coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.

4. Tạo ra một phương pháp cách mạng đúng, sử dụng bạo lực cách mạng gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, khởi nghĩa từng phần ở nông thôn phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng; đánh địch trên ba vùng chiến lược, kết hợp ba thứ quân, phát triển và kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài với tạo thời cơ nhằm mở những cuộc tiến công chiến lược tiến lên thực hiện tổng công kích và nổi dậy để đè bẹp quân thù giành thắng lợi cuối cùng.

Phân tích tình hình mọi mặt của đất nước, Báo cáo đã nêu lên ba đặc điểm lớn:

Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Hai là, cả nước hòa bình, độc lập và thống nhất đang tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và các tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra.

Ba là, hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh "ai thắng ai" giữa cách mạng và phản cách mạng còn rất gay go và phức tạp.

Những đặc điểm đó tác động mạnh mẽ đến quá trình biến đổi cách mạng ở nước ta. Vì vậy, bản Báo cáo đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:

"Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội".

Trên cơ sở đường lối chung, Báo cáo vạch ra đường lối kinh tế: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc".

Thời gian phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng hai mươi năm.

Đó là nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp gay go nhằm giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa.

Muốn đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, "điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động".

Báo cáo đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa (1976-1980) nhằm hai mục tiêu vừa cơ bản vừa cấp bách là bảo đảm nhu cầu của đời sống nhân dân, tích lũy để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, phải ra sức thực hiện các nhiệm vụ: phát triển vượt bậc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giải quyết một cách vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thông dụng; xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng đặc biệt là cơ khí, mở mang giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, đẩy mạnh khoa học kỹ thuật; sử dụng hết lực lượng lao động; hoàn thành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tiến mạnh mẽ công tác thương nghiệp, giá cả, tài chính, ngân hàng; tăng nhanh nguồn xuất khẩu; phát triển giáo dục, văn hoá, y tế, cải cách giáo dục, đào tạo cán bộ, thanh toán hậu quả của chủ nghĩa thực dân mới; xây dựng một hệ thống mới về quản lý kinh tế trong cả nước.

Về đối ngoại, Báo cáo nêu rõ trong giai đoạn mới, chúng ta cần ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học - kỹ thuật, củng cố quốc phòng, kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa và các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ.

Về xây dựng Đảng, Báo cáo trình bày những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong mấy chục năm qua; xác định nhiệm vụ, phương châm và biện pháp công tác đảng trong giai đoạn mới, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng gồm 11 chương và 59 điều. Điều lệ đã rút gọn 10 nhiệm vụ của đảng viên thành 5 nhiệm vụ, đặt lại chức Tổng bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, quy định nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là năm năm...

Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Đại hội bầu ra gồm 101 ủy viên chính thức: Hoàng Anh, Lê Đức Anh, Trần Ngọc Ban, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Cầm, Nguyễn Côn, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Chi, Trường Chinh, Dương Quốc Chính, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Trần Hữu Dực, Lê Quang Đạo, Phan Văn Đáng, Nguyễn Thị Định, Trần Độ, Trần Đông, Ngô Duy Đông, Phạm Văn Đồng, Võ Thúc Đồng, La Lâm Gia, Võ Nguyên Giáp, Song Hào, Trần Văn Hiển, Lê Văn Hiền, Lê Quang Hòa, Trần Quốc Hoàn, Phạm Hùng, Trần Quang Huy, Tố Hữu, Nguyễn Xuân Hữu, Võ Văn Kiệt, Phạm Văn Kiết, Hoàng Văn Kiểu, Nguyễn Hữu Khiếu, Đặng Hữu Khiêm, Đoàn Khuê, Nguyễn Lam, Nguyễn Quang Lâm, Vũ Lập, Nguyễn Thành Lê, Trần Lê, Vũ Ngọc Linh, Vũ Đình Liệu, Trần Văn Long, Lê Văn Lương, Trần Lương, Nguyễn Hữu Mai, Chu Huy Mân, Trường Minh, Đỗ Mười, Đỗ Văn Nuôi, Nguyễn Thị Như, Lê Văn Nhung, Lê Thanh Nghị, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Văn Phẩm, Bùi Phùng, Hà Thị Quế, Trần Quỳnh, Trần Quyết, Nguyễn Quyết, Bùi San, Trần Sâm, Phan Ngọc Sến, Trần Văn Sớm, Nguyễn Đức Tâm, Nguyễn Tuấn Tài, Hà Kế Tấn, Lê Trọng Tấn, Bùi Quang Tạo, Võ Toàn (Võ Chí Công), Phan Trọng Tuệ, Hoàng Tùng, Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Vũ Tuân, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Cơ Thạch, Tạ Hồng Thanh, Võ Văn Thạnh, Lê Quốc Thân, Nguyễn Thị Thập, Tôn Đức Thắng, Đinh Đức Thiện, Hoàng Minh Thi, Đặng Thí, Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Đức Thuận, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Xuân Thuỷ, Trần Văn Trà, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Ngọc Trìu, Đàm Quang Trung, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Vịnh, Nguyễn Như ý.

Có 32 ủy viên dự khuyết là Nguyễn Ngọc Cừ, Nguyễn Chấn, Cao Đăng Chiếm, Nguyễn Văn Chinh, Đỗ Chính, Trần Hữu Dư, Nguyễn Đáng, Y Ngông Niêk Đam, Trần Hanh, Lê Ngọc Hiền, Đặng Vũ Hiệp, Hoàng Văn Hiều, Vũ Thị Hồng, Trương Văn Kiện, Lê Khắc, Bùi Thanh Khiết, Trần Lâm, Nguyễn Tường Lân, Y Một, Lương Văn Nghĩa, Hồ Nghinh, Vũ Oanh, Trần Phương, Nguyễn Văn Sĩ, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đình Tứ, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Thế Thiện, Lê Phước Thọ, Nguyễn Hữu Thụ, Lê Văn Tri và Trần Vỹ.

Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã bầu Bộ Chính trị gồm có 14 ủy viên chính thức là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Chu Huy Mân và ba ủy viên dự khuyết là Tố Hữu, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười. Tổng bí thư là Lê Duẩn.

Đại hội lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; là đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Đại hội vạch rõ rằng con đường đi tới không chỉ có thuận lợi mà còn nhiều khó khăn, trong đó có cả những thiếu sót và sự non kém của chúng ta nữa. Không phải chỉ có trên con đường đi tới mà ngay trong Đại hội này, chúng ta thấy đã bộc lộ sự thiếu sót và non kém của Đảng.

Đại hội đã không xác định mục tiêu của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ và phạm sai lầm trong việc xác định bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về quan điểm quản lý kinh tế... Vì thế, trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Đại hội, chúng ta gặp những khó khăn rất lớn và tình hình kinh tế - xã hội xấu đi.

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương đã theo dõi từng bước phát triển của tình hình, bổ sung và cụ thể hóa đường lối của Đại hội bằng những chủ trương, chính sách mới.

Cuối tháng 6 đầu tháng 7.1977, Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp bàn về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp nhằm bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội và có lương thực để dự trữ, cung ứng nguyên liệu nông lâm và hải sản cho công nghiệp; tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu.

Tháng 1.1978, Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn kế hoạch kinh tế năm 1978. Hội nghị chủ trương phải khắc phục tình trạng trì trệ về sản xuất và quản lý kinh tế.

Tháng 7.1978, Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp. Nghị quyết của Hội nghị nhấn mạnh cần phải thấu suốt quan điểm nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế, vừa tăng cường lực lượng quốc phòng và an ninh, chiến đấu tốt và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Hai nhiệm vụ đó cần được vận dụng một cách thích hợp ở từng vùng, từng địa phương. Cũng tại hội nghị này, Trung ương đã thông qua nghị quyết về kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Phải có sự đổi mới sâu sắc về quan điểm xây dựng tổ chức, đổi mới cách chỉ đạo, kiên quyết xoá bỏ những phương pháp và thói quen làm việc cũ không phù hợp với giai đoạn mới của cách mạng, sẵn sàng thích ứng nhanh với mọi tình huống, bảo đảm yêu cầu xây dựng, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Tháng 12.1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ năm, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, xác định ba nhiệm vụ lớn của nhân dân ta là ổn định đời sống của nhân dân; tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Cho đến năm 1979, nền kinh tế - xã hội đi dần vào một cuộc khủng hoảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu (8.1979) chuyên bàn về công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, đồng thời giải quyết những nhiệm vụ cấp bách về kinh tế và đời sống. Hội nghị chủ trương phải sửa chữa các khuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nhất là phải đổi mới công tác kế hoạch hoá và cải tiến một cách cơ bản chính sách kinh tế làm cho sản xuất "bung ra" theo phương hướng kế hoạch của Nhà nước. Hướng đổi mới công tác kế hoạch là chống tập trung quan liêu, bảo đảm quyền làm chủ về kinh tế của các ngành, các cấp, kết hợp kế hoạch hoá với sử dụng thị trường. Phải xoá bỏ ngay những chính sách kinh tế đã lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế sản xuất và đời sống. Các chính sách mới phải kết hợp chặt chẽ lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tập thể và của cá nhân người lao động nhằm khuyến khích mọi người hăng hái sản xuất. Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá sự đúng đắn của các chính sách là năng suất lao động tăng, sản xuất phát triển và đời sống nhân dân được cải thiện. Hội nghị lần thứ sáu đánh dấu bước mở đầu cho quá trình đổi mới của Đảng.

Thực hiện chủ trương đổi mới về tư tưởng chỉ đạo kinh tế, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã lần lượt có những chỉ thị mới về chính sách kinh tế trên các lĩnh vực sản xuất, lưu thông... nhằm thúc đẩy người lao động và các cơ sở kinh tế quan tâm hơn nữa đến sản xuất và kinh doanh. Chỉ thị 100CT/TW ngày 13.1.1981 của Ban Bí thư Trung ương về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã, thể hiện sự đổi mới tư duy trong việc cải cách một phần mô hình hợp tác xã, tạo ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp. Quyết định số 25-CP ngày 21.1.1981 cũng đã thể hiện tinh thần đổi mới trong quản lý công nghiệp.

Tháng 3.1980, Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và quyết định một số vấn đề về cán bộ của Đảng.

Tháng 9.1980, Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét bản Dự thảo Hiến pháp mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quyết định những biện pháp bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp sau khi được Quốc hội thông qua.

Tháng 12.1980, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ chín ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế và xã hội năm 1981 là đẩy mạnh sản xuất, tăng cường củng cố quốc phòng, đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, cải tiến mạnh mẽ quản lý kinh tế, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, củng cố quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, đẩy mạnh hợp tác với Liên Xô... Hội nghị cũng ra nghị quyết về việc triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng.

Việc chuẩn bị Đại hội Đảng được xúc tiến mạnh mẽ. Tháng 10.1981, Hội nghị lần thứ mười của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận Báo cáo chính trị và Dự thảo Báo cáo về công tác xây dựng đảng để trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng. Hội nghị quyết định Đại hội Đảng sẽ họp vào tháng 3.1982.

Tháng 12.1981, Hội nghị lần thứ mười một của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 1982 và tiếp tục công việc chuẩn bị các văn kiện để trình Đại hội Đảng.

Đầu tháng 3.1982, Hội nghị lần thứ mười hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp kiểm điểm công tác chuẩn bị Đại hội và quyết định Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng sẽ họp công khai vào hạ tuần tháng 3.1982 tại Hà Nội.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (1976-1982)

Tổng Bí thư

Lê Duẩn

Bộ Chính trị

Ủy viên chính thức

1. Lê Duẩn

2. Trường Chinh

3. Phạm Văn Đồng

4. Phạm Hùng

5. Lê Đức Thọ

6. Võ Nguyên Giáp

7. Nguyễn Duy Trinh

8. Lê Thanh Nghị

9. Trần Quốc Hoàn

10. Văn Tiến Dũng

11. Lê Văn Lương

12. Nguyễn Văn Linh (Nguyễn Văn Cúc)

13. Võ Chí Công (Võ Toàn)

14. Chu Huy Mân

Ủy viên dự khuyết

1. Tố Hữu (chính thức từ tháng 3.1980)

2. Võ Văn Kiệt

3. Đỗ Mười

Ban Bí thư

1. Lê Duẩn

2. Lê Đức Thọ

3. Nguyễn Duy Trinh

4. Nguyễn Văn Linh (Nguyễn Văn Cúc)

5. Tố Hữu

6. Xuân Thủy

7. Nguyễn Lam

8. Song Hào

9. Lê Quang Đạo

10. Trần Quốc Hoàn (bổ sung từ năm 1980)

11. Lê Thanh Nghị (bổ sung từ tháng 3-1980)

Danh sách Ban Chấp hành Trung ương

Ủy viên chính thức

1. Lê Duẩn

2. Tôn Đức Thắng

3. Lê Thanh Nghị

4. Nguyễn Lương Bằng

5. Phạm Văn Đồng

6. Nguyễn Duy Trinh

7. Xuân Thủy

8. Hoàng Văn Thái

9. Võ Nguyên Giáp

10. Trần Quốc Hoàn

11. Lê Quang Đạo

12. Lê Văn Lương

13. Chu Huy Mân

14. Nguyễn Đức Thuận

15. Nguyễn Đức Tâm

16. Đỗ Mười

17. Trần Lương

18. Lê Đức Thọ

19. Văn Tiến Dũng

20. Nguyễn Lam

21. Đồng Sỹ Nguyên

22. Đàm Quang Trung

23. Lê Văn Nhung (Việt Thắng)

24. Tố Hữu

25. Nguyễn Quyết

26. Võ Chí Công (Võ Toàn)

27. Trần Sâm

28. Phan Ngọc Sến (Mười Kỷ)

29. Lê Văn Hiền (Tám Hiền)

30. Nguyễn Thị Thập

31. Vũ Ngọc Linh

32. Lê Văn Phẩm (Chín Hải)

33. Trần Hữu Dực

34. Nguyễn Hữu Mai

35. Đoàn Khuê

36. Nguyễn Thanh Bình

37. Bùi Quang Tạo

38. Ngô Duy Đông

39. Song Hào

40. Nguyễn Cơ Thạch

41. Vũ Lập

42. Hoàng Quốc Việt

43. Võ Văn Kiệt (Sáu Dân)

44. Dương Quốc Chính

45. Lê Trọng Tấn

46. Trường Minh

47. Trần Lê (Năm Hòa)

48. Trường Chinh

49. Hoàng Cầm

50. Nguyễn Thành Lê

51. Nguyễn Xuân Hữu (Bảy Hữu)

52. Hoàng Văn Kiều

53. Bùi Phùng

54. Đinh Đức Thiện

55. Trần Quang Huy

56. Lê Đức Anh

57. Nguyễn Hữu Khiếu

58. Nguyễn Vịnh

59. Trần Đông

60. Phan Trọng Tuệ

61. Trần Văn Long (Mười Dài)

62. Võ Thúc Đồng

63. Trần Văn Trà

64. Nguyễn Như Ý (Năm Chũ, Lê Quang Chữ)

65. Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí)

66. Đỗ Văn Nuống (Tự Nguyện)

67. Trần Kiên (Nguyễn Tuấn Tài)

68. Vũ Đình Liệu (Tư Bình)

69. Hoàng Minh Thi

70. Phạm Hùng

71. Hoàng Anh

72. Lê Quốc Thân

73. Trần Quỳnh

74. Hà Kế Tấn

75. Đặng Quốc Bảo

76. La Lâm Gia (Bảy Máy)

77. Nguyễn Ngọc Trìu

78. Hà Thị Quế

79. Nguyễn Côn

80. Nguyễn Thị Định (Ba Định)

81. Lê Quang Hòa

82. Trần Văn Sớm

83. Trần Quyết

84. Mai Chí Thọ (Năm Xuân)

85. Đặng Thí

86. Bùi San

87. Phan Văn Đáng (Hai Văn)

88. Trần Văn Hiển

89. Võ Văn Thạnh

90. Phạm Văn Kết (Năm Vận)

91. Trần Quốc Hương (Trần Ngọc Ban, Mười Hương)

92. Tạ Hồng Thanh

93. Nguyễn Thị Bạch Tuyết (Sáu Tuyết)

94. Trần Độ

95. Nguyễn Quang Lâm (Tám Tú)

96. Nguyễn Thành Thơ (Mười Thơ)

97. Nguyễn Văn Linh (Nguyễn Văn Cúc)

98. Đặng Hữu Khiêm

99. Vũ Tuân

100. Hoàng Tùng

101. Nguyễn Thị Như

Ủy viên dự khuyết

1. Vũ Oanh

2. Nguyễn Văn Chính (Chín Cần)

3. Đào Duy Tùng (chính thức từ tháng 11.1981)

4. Lương Văn Nghĩa

5. Trần Hanh

6. Vũ Thị Hồng

7. Cao Đăng Chiếm (Sáu Hoàng)

8. Nguyễn Chấn

9. Nguyễn Tường Lân

10. Trần Hữu Dư

11. Trần Phương

12. Lê Khắc

13. Nguyễn Đình Tứ

14. Trần Lâm

15. Hoàng Minh Thảo (chính thức từ tháng 11.1981)

16. Lê Ngọc Hiền

17. Lê Văn Tri

18. Hoàng Thế Thiện

19. Đặng Vũ Hiệp

20. Đỗ Chính

21. Trần Vỹ

22. Nguyễn Ngọc Cừ

23. Nguyễn Hữu Thụ

24. Hoàng Văn Hiều

25. Trường Văn Kiện

26. Bùi Thanh Khiết

27. Nguyễn Đáng (Năm Trung)

28. Lê Phước Thọ (Sáu Hậu)

29. Hồ Nghinh (Phước)

30. Nguyễn Văn Sĩ (Ksor Kron)

31. Y Một (Y Pah)

32. Y Ngông Niêk Đăm

Theo website Đảng Cộng sản VN

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.