Xứng đáng là hậu duệ vị tướng của Bác Hồ
Thiếu tướng Dũng Mã Nguyễn Xáng là 1 trong 18 người được Bác Hồ phong tướng. Ông là người cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở cạnh Bác trong chiến dịch Cao Lạng 1950. Thời gian qua đi, ít ai biết rằng tại một làng quê miền Trung, Thiếu tướng còn có người cháu ruột gọi ông bằng chú, đang thờ tự ông và người em ruột của ông - Sơn Mã Nguyễn Huynh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 18 thuộc Đại đoàn 308, hy sinh ngày 5/11/1952 trong chiến dịch Tây Bắc. Người cháu đó là ông Nguyễn Văn Hảo, nguyên thầy giáo tiểu học, nay là thanh tra thôn An Trạch (xã Hòa Tiến, Hòa Vang, TP Đà Nẵng) kiêm trưởng tộc Nguyễn (xã Điện Tiến, Điện Bàn, Quảng Nam). Sau 30 năm, ông bồi hồi nhớ lại: “10 năm sau 1975 là giai đoạn đại gian nan. Trong làng An Trạch biết bao nhiêu em học sinh bỏ học. Tôi thì nghĩ nếu không có cái chữ, con cái sẽ gian nan hơn mình. Nhưng tiền đâu, sách đâu cho đàn con theo học? Tôi và các cháu không để một tấc đất hoang trong vườn, trồng bí trồng bầu, nuôi heo, nuôi gà. Đôi gánh hàng trên vai bà xã cũng góp phần to lớn. Vượt qua cấp 2 rồi cấp 3, lần lượt 6 đứa tiếp lên đại học, 2 đứa còn lại theo trung cấp rồi sau đó cũng vào đại học luôn”. Con gái đầu của ông, Nguyễn Thị Kim Cảnh, tốt nghiệp Đại học Kinh tế Đà Nẵng năm 1982 - nay là kế toán trưởng chi nhánh Công ty Xây dựng Quảng Nam - Đà Nẵng tại TP Đà Nẵng, vẫn không quên những ngày dài ăn sắn, ăn khoai, bị đĩa cắn đỏ bắp chân trên đồng Hà Ra mà lòng vẫn cháy bỏng giấc mơ đại học. Còn đứa trai út Nguyễn Văn Hiếu, tốt nghiệp Đại học Giao thông - Vận tải và Đại học Kinh tế tại TP Hồ Chí Minh, nay là Trưởng phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ Công ty Cổ phần Bưu chính - Viễn thông Sài Gòn, lại nhớ mỗi chiều lẽo đẽo ra chợ làng An Trạch giúp mẹ bày từng chai xì dầu, gói bánh trên sạp hàng. Mới đây, VTV đề nghị làm phim về Hiếu như 1 điển hình tiên tiến trong lớp trẻ sau 1975 nhưng Hiếu ngần ngừ do nghĩ còn nhiều bạn vượt khó và giỏi giang hơn mình.
“Mới đó đã 30 năm, nhiều khi nghĩ lại không tin nổi! Nỗ lực tối đa đã đành, nhưng nếu đất nước không đổi mới, chưa chắc các con tôi được như bây giờ”. Ông Hảo trầm ngâm mà niềm vui ánh lên đôi mắt. Bỗng ông bùi ngùi khi nhắc lại cuộc họp gia đình vào thời điểm khó khăn nhất: quyết định cho em Nguyễn Thị Ánh Tuyết nghỉ học do không còn kham nỗi. “Khi đó, cả đàn con òa lên khóc! Vậy là thôi, vợ chồng tôi phải chạy vạy nhiều nơi cho cháu tiếp tục đến trường”. Cuối cùng Tuyết tốt nghiệp Trung cấp Kỹ thuật, nay công tác tại Nhà máy Dệt Sơn Trà (Tổng công ty Dệt may Việt Nam) và sắp có bằng đại học tại chức. Tính ra, từ chỗ khó nghèo, nay 8 con ông có đến 10 bằng đại học, thạc sĩ. Kể luôn dâu, rể tổng số bằng hiện có là 17! Hầu hết đều là đảng viên, có vị trí trong các đơn vị, cơ quan nhà nước và một số đang tiếp tục học thêm vài tấm bằng cho đủ túc số 20.
Tự hào là con của một người chân đất
Đó là đàn con của vợ chồng ông Lê Hữu Liệu, người làng Lệ Sơn (Hoà Tiến, Hoà Vang, TP Đà Nẵng) thường gọi chú Bảy Lư. Sau 1975, ông đưa cả gia đình về quê nhưng để lại ngôi nhà nhỏ ở khu cống Mê Linh, Đà Nẵng. Thời hợp tác xã, nếu ở làng có bao nhiêu nỗi cực thì gia đình ông nếm trải bấy nhiêu. Ông bà ứa nước mắt nhắc lại cảnh cả gia đình lên núi nhổ sắn thuê, chiều về người ta trả công bằng sắn. Giữa đường, nặng quá, phải bỏ bớt. Tối mịt tới nhà, sắn chẳng còn được bao nhiêu! Cũng vậy là những hôm 1- 2 giờ sáng lội bộ hàng chục cây số “lên dương cao chót vót”, gánh về từng gánh củi, bán cho ông Bửu chèo đò, kiếm tiền nuôi con ăn học. Nghe chuyện thấy thương, ông Hà, ông Cửu Dự ở La Châu kêu hai vợ chồng làm thuê “công đôi” quanh năm suốt tháng. Rồi ông Bảy sung vào đội làm phân của hợp tác xã, thân nặng chỉ 40kg nhưng ông ráng gánh gần gấp rưỡi, gấp đôi. Đàn con 9 đứa của ông cũng chẳng ở không ngày nào, mọi việc nhà quê đều trải qua tất. Hết giữ bò là ra ruộng cấy, chân dấm lúa mà miệng lẩm nhẩm học bài. Được một thời gian, 3 con đầu dắt dìu nhau ra Đà Nẵng. Người chị đầu Lê Thị Nhân, sau mỗi buổi học là chở chồng rổ ra bến Thanh Bồ, mua cá vụn về chợ Mới. Thấy tội, nhiều người hàng xóm xúm lại mua. Mỗi cuối tuần, Nhân lại xách can dầu lửa theo ca-nô mang về quê đổi gạo, củi đem ra Đà Nẵng cơm nước nuôi hai em trai Lê Hữu Đức, Lê Hữu Hiền. Cứ thế, cả 3 chị em vượt qua cấp 3 rồi vào Đại học Huế và Đà Nẵng. Đời sinh viên biết bao nỗi khổ, hết Nhân đến Đức, mỗi lần từ Huế theo xe lửa về là mang theo lá đát, vành nón... nhượng lại cho chòm xóm chằm nón bài thơ. Trong khi đó ở quê, Lê Thị Hương - con gái thứ 4 - xung phong hy sinh việc học cho 5 đứa em còn lại. “Đó là hồi cơ khổ nhứt, tới chừ nhớ lại tui không khỏi rùng mình”. Bà mẹ Nguyễn Thị Công lấy tay quệt nước mắt: “Để thêm tiền đi học, Đức với Hiền phải đi bán cà-rem, vá xe đạp. Cuối tuần về quê ra đồng cắt cỏ, gặt lúa. Hai đứa chỉ có một cái quần, thay nhau mặc đến trường. Ba hắn phải lấy vải bao cát may thành quần cụt để anh em có cái mặc ở nhà”. Bà im lặmh hồi lâu, kể tiếp: “Còn ở quê, Hương cùng vợ chồng tui cáng đáng 1 mẫu 7 ruộng. Cực trăm bề, không làm răng nói hết. Suốt tháng 30 ngày đi làm công điểm, con Hương không nghỉ ngày mô”. Gian truân vậy mà giờ đây ông Bảy có 7 con đại học, 1 trung cấp. Tất cả đều đã có gia đình, ra riêng, có công ăn việc làm ổn định tại TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
Động lực nào mà một nông dân suốt đời đi chân đất làm nên kỳ tích ấy trong khi không ít gia đình khá giả không nuôi nỗi con vào đại học? Thay câu trả lời, ông Bảy Lư đưa cho tôi xem lá thư của Hiền viết khi còn là sinh viên ở Đại học Tổng hợp Huế: “Ba ơi! Dù đói khổ bao nhiêu con cũng cố học cho bằng họ. Ba có còn làm hàng sắn gần đường mương không ba?” Thế rồi, ông ôm ra những tờ học bạ và một chồng giấy khen. Tất cả đã ố vàng, vài tờ bị gián gặm, mối ăn nhưng dòng tên của các con ông được ghi bằng mực Hồng Hà như vẫn sáng lên khi ông đọc tên từng đứa!
Chia tay làng quê Hòa Tiến, trong tôi chợt vang lên câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi mùa Xuân đến: “Đất nuôi người, người nở hoa cho đất…”
Đặng Ngọc Khoa
Bình luận (0)