Theo truyền thuyết, cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 là giai đoạn phát đạt của người Thái vùng Châu Quý, cộng đồng người Thái khắp "chín bản mười mường" dựng lập ngôi đền Chín Gian tại Pù Chò Nhàng (thuộc địa phận xã Châu Kim ngày nay). Ban đầu ngôi đền kiểu nhà sàn lợp tranh, cột gỗ chôn sâu khoảng 0,5m, về sau (chưa rõ năm nào) dịch chuyển đền về đỉnh Pú Pỏm, bản Kim Khê, xã Châu Kim.
Ngôi đền Chín Gian ban đầu nhà sàn cột gỗ lợp tranh ấy, qua nhiều thế kỷ dãi nắng dầm mưa vẫn 3 năm một lần (từ 13-15.2 âm lịch giữa tiết Xuân), để chín bản mười mường tưng bừng lễ hội. Năm Đinh Mão (1927), Tri phủ Quỳ Châu là ông Sầu Văn Hiên người Thái vùng Mường Tôn, lệnh cho dân trong vùng vào rừng khai thác gỗ lim kéo ra bến bãi Piềng Pần (nay thuộc xã Châu Thắng huyện Quỳ Châu), kết thành bè mảng theo sông Nậm Giải chuyển lên tập kết tại bến Tà Tạo để nâng cấp ngôi đền.
Nhiều già làng trước đây vẫn nhớ, sau khi được tôn tạo, ngôi đền có 4 dãy cột lim cao to kê trên đá tảng, mái lợp tôn, cầu thang lên xuống xây bằng gạch, năm 1929 bà con mở lễ hội và mãi đến năm 1947 mở lại 1 lần rồi thôi.
Trong khoảng lặng 59 năm (1947- 2006) gần một đời người, Lễ hội đền Chín Gian hoàn toàn bị gián đoạn. Năm 1972 tôn mái của đền bị tháo dỡ về lợp cửa hàng mậu dịch quốc doanh, toàn bộ cột kèo bằng gỗ lim dần thành cửa thành nhà của kẻ xấu.
Lễ hội đền Chín Gian chỉ còn trong ký ức người già. Năm 2004 UBND huyện Quế Phong tiến hành phục dựng làm mới bằng chất liệu sắt thép bêtông, năm 2006, đền được khánh thành và tưng bừng tái mở Lễ hội.
Chín gian của đền tượng trưng cho 9 mường khởi đầu của đồng bào Thái gồm mường Tôn, Pắn, Chừn, Hin, Puộc, Quáng, Miểng, Chón, Pha Quèn. Trong đó gian chính giữa là của Mường Tôn đặt 3 pho tượng uy nghiêm thờ 3 vị: Then Pà (Vua Trời như là Ngọc hoàng), Náng Xỉ Đà con gái của Ngọc hoàng (như Mẫu Liễu Hạnh) và Tạo Ló Ỳ là người đầu tiên khai mở cai quản mường Tôn, như Thành hoàng làng của người Việt.
Ba pho tượng làm bằng gỗ mít sơn son thếp vàng do nghệ nhân Hà Nội chế tác, vừa mới được mang về. Tại gian giữa treo 2 đôi câu đối chữ Nho và chữ Thái, đôi câu đối chữ Thái đọc từ phải qua trái là: Đây ký bò lúng thụ. Đây dù bò lúng củng (Được ăn không quên ơn. Được ở không quên công).
Tám gian còn lại thờ 8 vị tạo của 8 mường. Tạo là người đầu tiên đến khai khẩn lập dựng cai quản mỗi mường.
Đến hẹn lại lên, từ 13-15.2 năm Kỷ Sửu (10.3.2009) cộng đồng người Thái xứ Nghệ lại tưng bừng vào Lễ hội Đền Chín Gian. Lễ hội tuần tự qua 6 lễ cơ bản gồm Lễ khai quang (Xó Phí pù-pí pà), Lễ yết cáo (Khẩy quan), Lễ rước (Ton đăm ton Thẻn), Lễ chém trâu (Phắn quái), Lễ đại Tế (Xớ thẻn xớ đặm), Lễ tạ (Thào quan).
Theo cảm nhận của chúng tôi, nét độc đáo tạo nên bản sắc không thể hoà tan của Lễ hội Đền Chín Gian mà các thế hệ người Thái xứ Nghệ giữ gìn, được thể hiện trong nghi tiết của Lễ rước, Lễ chém trâu , Lễ đại Tế. Những người hành lễ của 3 lễ này ngoài mo, chà, các vị chức sắc nêu trên, còn có mấy chục nam thanh nữ tú chưa vợ chưa chồng, tất cả trang phục tế lễ truyền thống.
Lễ rước sáng 14.2 âm lịch. Mở đầu bằng nghi tiết tắm trâu tại bến Tà Tạo cách phía trước đền khoảng 100m. Mo và 2 chấp sự dắt trâu xuống bến, lát sau Mo trở về cùng các chủ tế đứng trước chiếc chiếu nổi bật hoa văn dân tộc Thái, trên chiếu đặt 1 đĩa trầu cau, 3 ống đựng nước.
Mo khấn xin Thần sông Thần nước cho phép đưa trâu xuống tắm, và trao 3 ống nước cho 3 vị đồng chủ tế, 3 vị này giội nước lên lưng trâu giữa âm thanh cồng chiêng và tiếng hò reo của đoàn người tham gia lễ rước. Lát sau, mo hô "Pó nơ!" (Chúng ta lên đường!), đám rước trật tự khởi hành theo nhịp cồng chiêng. Trên chặng 100m từ bến Tà Tạo lên đến sân Đền, đám rước lần lượt dừng lại tại các am dâng hương:
Tại sân đền, hai hàng quân uy nghiêm vác 60 cây cờ hội chia làm 2 dãy đối xứng, 30 nam đứng phía ngoài 30 nữ đứng phía trong sân đền. Chủ tế thắp hương, 2 chà dắt con trâu buộc vào cột gỗ chôn giữa sân đền, chủ tế cùng mo lên đứng trước gian thờ chính thắp hương, khấn xin các thần cho phép làm Lễ Phắn quái (chém trâu).
Theo tục truyền, ông Chà chém trâu chỉ 1 nhát, nếu phải chém nhát thứ hai hoặc thứ ba bị coi là mất thiêng, năm đó có chuyện không may. Sau khi chém, nếu hai chân trước của trâu quỵ xuống phía trước, đầu hướng thẳng vào đền là tốt. Nếu trâu ngã về bên phải phía có sông là ứng với năm đó bị mất mùa cá. Nếu trâu ngã về bên trái phía có ruộng lúa ứng với năm đó bị mất mùa lúa do thiên tai dịch bệnh v.v...
Lễ đại tế tiến hành ngay sau Lễ chém trâu. Đặc biệt 9 nữ tú chưa chồng trang phục bên trong váy áo Thái, bên ngoài áo dài màu đỏ đầu đội khăn piêu. Khi ông "Làm mường" đánh 9 tiếng cồng tiếp theo, mo kính mời Vua Trời cùng các vị Thần linh, tổ tiên, dòng họ về dự lễ hội, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho bản mường làm ăn phát đạt, lúa đầy đồng cá đầy sông, rừng xanh tươi tốt, no ấm yên vui, đoàn kết xây đắp cuộc sống. Ngoài sân đền tiến hành khai hội để đám đông tham gia khắc luống, cồng chiêng, văn nghệ, kéo co, bóng chuyền, hội thi người đẹp v.v..
Đây là lễ hội lâu đời nhất, quy mô nhất, đậm đà bản sắc dân tộc Thái giữa đại ngàn xứ Nghệ.
Theo Giao Hưởng / Lao Động
Bình luận (0)