Đi qua tâm bão : Kỳ 1: Ngôi mộ giữa rừng

28/08/2005 23:02 GMT+7

Trong tháng 9.2005, NXB Văn nghệ TP.HCM sẽ ấn hành cuốn Đi qua tâm bão - hồi ký của bà Hồng Châu Nguyễn Lục Hà. "Bão" ở đây là cuộc kháng chiến chống Pháp mà những người phụ nữ Nam Bộ bị cuốn hút vào. Mang trong mình dòng máu yêu nước và đởm lược của người mẹ (bà Gia Lạc), cô gái Nguyễn Lục Hà cũng "nhập cuộc" với tinh thần tiến công, sừng sững trước kẻ thù nham hiểm, cô đã trải qua rất nhiều nhà tù, từng bị dẫn ra pháp trường hành quyết... trước khi trở thành vợ của nhà thơ tài hoa Nguyễn Bính. Báo Thanh Niên được bà Hồng Châu cho phép độc quyền trích đăng Đi qua tâm bão bắt đầu từ số báo này.

  

Tuổi trẻ của bà Gia Lạc chứng kiến bao cảnh thương tâm, thù nhà, thù nước sớm khắc sâu vào tâm trí. Bà tham gia tiếp tế gạo muối, hoặc thông báo tin tức cho nghĩa quân. Năm căn cứ nghĩa quân Đồng Tháp Mười bị phá vỡ, bọn giặc ra sức truy sát nhóm nghĩa quân còn lại. Ông ngoại của Hà và người con gái út tên Bảy Cân (Nguyễn Thị Cân, tức là bà Gia Lạc, má của Hà) gom góp một ít đồ đạc cần dùng, xuống xuồng men theo lung, theo rạch đi sâu vào rừng lánh nạn.

 

Ngày đi đêm nghỉ. Hết lương thực, nhổ bồn bồn, bông súng, đọt choại, đọt dớn, củ năn, củ ấu thay cơm... Thời đó, thiên nhiên tuy hung hiểm, nhưng cũng thật trù phú, ban tặng cho con người biết bao sản vật, trong rừng có đủ loại muông thú, dưới sông dưới lạch thì cơ man nào tôm cá rắn rùa... Người ta không sợ đói, không sợ khổ, chỉ sợ kẻ ác, sợ nhục. Hai cha con cô Út Cân, cứ nhắm hướng mặt trời mà đi. Rừng nước mênh mông, không một gò đất dừng chân, không một bóng người, chấp chới, hoang vu.

 

Ông ngoại Hà, tuổi cao sức yếu, lại vừa trải qua cuộc truy sát của giặc, đã lâm bệnh trên đường bôn tẩu. Nắm lá cây rừng không đủ sức chống chọi với bệnh tật. Suốt một tuần trăng, ông giành giật mạng sống với tử thần, nhưng không thành. Ông trút hơi thở cuối cùng giữa rừng sâu nước độc. Người con gái không còn nước mắt, khóc cha. Nỗi đau vượt quá giới hạn chịu đựng của con người... Cô ngất lịm, khi tỉnh dậy, vành trăng non đã lên khỏi bìa rừng. Tiếng ếch nhái, muỗi mòng, tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng u u minh minh của rừng đêm, bốn bề đồng vọng, tang tóc, thê lương... Cô ôm xác cha, lạnh cứng. Lời cha dặn trước lúc lâm chung như còn văng vẳng bên tai cô: "Sau này, dù sự thể thế nào, con cũng phải sống, hình hài của con, là thứ tài sản duy nhất cha mẹ để lại cho đời, con không được tự hủy hoại mà có tội với tổ tông, tội bất hiếu". Cô đặt xác cha nằm ngay ngắn giữa xuồng, phủ lên người chết manh đệm, sờ soạng nhen lại bếp un, ngọn khói ngoằn ngoèo bay lên, ánh lửa bùng lên, xua bớt cái lạnh lẽo của rừng đêm. Một mình một bóng, cô ngồi thu lu dưới chân thi hài cha, chờ sáng.

 

Mặt trời lên độ một con sào. Cô Út bó xác cha trong manh đệm, ngoài buộc chặt bằng những nuộc dây choại. Khâm liệm cha xong, cô bươi trong bếp un hai củ khoai lùi, nướng trui con cá lóc, vài cục muối hột, mấy bông hoa súng, cô bày tất cả lên mặt lá sen, đặt mâm cơm cúng trước đầu "linh cữu", khấn cha ba lạy, khói bếp un nghi ngút thay cho nén nhang tưởng niệm. Xong xuôi, cô chọn những cây tràm suông, đẵn thành những cây cọc dài khoảng bốn năm mét, rồi lặn xuống đáy lung, tìm chỗ bằng phẳng để an táng cha. Cô cặm hai cây cọc ở hai đầu thi thể, neo chặt xác cha vào đó, ngang qua thi thể còn đóng hàng cọc ken dày chéo qua chéo lại hình chữ x, để giữ cho thi thể người chết khỏi bị trương phình, trôi nổi dật dờ hay thú rừng xâm hại. Khi thực hiện công việc trọng đại đó, đầu óc cô Út trống rỗng, chỉ có đôi tay và sức lực của tuổi mười bảy như răm rắp làm theo sự mách bảo của thánh thần. Ngôi mộ hoàn tất, mặt trời cũng xuống sau bìa rừng. Rừng đêm chậm chạp trôi qua. Cô Út gục xuống đầu mộ, òa khóc, tiếng khóc uất nghẹn, dồn nén bao ngày qua giờ tuôn tràn như đập vỡ. Ba ngày sau, cô tìm cây lau to, trổ cờ trắng xóa, một con gà rừng làm lễ mở cửa mả cho cha. Cô lấy màu trắng của bẹ bồn bồn, phơi heo héo, chẻ nhỏ, tự đươn cho mình một chiếc khăn tang. Ngày, cô vào rừng săn thú, hay ra bưng, ra trắp, bắt cá, bắt chim, nhổ củ năn, củ súng... tìm sự sống. Đêm, cô về neo xuồng bên mộ cha. Trăng khuyết lại tròn, bao mưa nắng. Mỗi ngày, cô lấy dao khắc lên đầu cọc ở trên mộ cha một khắc, đến một ngày kia, cô lần đếm các dấu dao, có hơn trăm ngày cô ở bên mộ cha. Đến lúc cô phải ra đi, để giữ tròn đạo hiếu và làm theo lời di huấn của cha.

 

Đó là một sáng mùa mưa, bông súng nở trắng đồng. Cô Út lạy tạ từ cha, lên đường. Cô bơi theo lòng lạch, lòng sông, xuôi dòng nước tìm ra sông lớn, nơi có dân cư, làng xóm. Cô Út trở về với đời sống cộng đồng. Sa Đéc, Cái Tàu, Nha Mân, Long Hồ, Ba Si, Láng Thé... Bao tên xóm tên làng cô Út đi qua, cô làm đủ nghề để mưu sinh, dần dà cô đến Trà Vinh làm nghề may khâu vá mướn, rồi làm bạn với ông Gia Lạc một người yêu nước bị lưu đày, an trí ở miền Nam.

 

Hà Đình Nguyên (trích)

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.