Nghịch lý trong đào tạo giáo viên
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tổ chức môn khoa học tự nhiên (KHTN) ở cấp THCS trên cơ sở tích hợp vật lý, hóa học và sinh học; môn lịch sử và địa lý kết nối hai lĩnh vực lịch sử và địa lý. Nếu được thực hiện đúng, môn tích hợp giúp học sinh nhìn thấy mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến thức, thay vì học chúng như những phần rời rạc.
Chúng ta đã nói nhiều về chương trình, sách giáo khoa và khó khăn khi dạy học tích hợp. Nhưng câu hỏi quan trọng hơn lại ít được đặt ra: người đứng lớp đã được đào tạo để trở thành giáo viên tích hợp hay chưa?
Bởi không thể có môn học tích hợp đúng nghĩa nếu người dạy vẫn được chuẩn bị chủ yếu theo logic của một môn học riêng lẻ. Giáo viên tích hợp không đơn giản là người "biết thêm" kiến thức của một hoặc hai môn khác.

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tổ chức môn khoa học tự nhiên ở cấp THCS trên cơ sở tích hợp vật lý, hóa học và sinh học
ảnh: Đào Ngọc Thạch
Điều đó đòi hỏi giáo viên không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có năng lực kết nối, lựa chọn kiến thức, thiết kế tình huống học tập và tổ chức hoạt động để học sinh nhận ra các mối quan hệ ấy. Nói cách khác, năng lực dạy học tích hợp là một năng lực nghề nghiệp riêng.Và năng lực ấy không thể hình thành chỉ bằng vài đợt tập huấn.
Muốn có giáo viên dạy một môn học được cấu thành từ nhiều lĩnh vực, chương trình đào tạo cũng phải được thiết kế tương ứng. Trong khi chương trình mới đã đi vào lớp học, đào tạo đội ngũ lại cần nhiều thời gian. Khoảng cách này cần được tính đến khi đánh giá những bất cập của môn tích hợp.
Thế nhưng, nhìn vào câu chuyện tuyển sinh, chúng ta vẫn quen nói nhiều về giáo viên vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý theo từng ngành riêng biệt.
Trong khi đó, sư phạm KHTN, sư phạm lịch sử - địa lý lại ít được đặt vào trung tâm của câu chuyện truyền thông.
Không thể chỉ thay đổi chương trình phổ thông rồi kỳ vọng các trường sư phạm tự thích ứng. Cũng không thể chỉ tổ chức những khóa bồi dưỡng ngắn hạn rồi kỳ vọng một giáo viên chuyên sâu về một lĩnh vực có thể ngay lập tức trở thành giáo viên liên ngành.
Nếu không làm được điều đó, rất dễ rơi vào tình trạng: chương trình thì tích hợp nhưng người dạy vẫn bị buộc phải xoay xở bằng năng lực đơn môn.
Dè dặt từ tâm lý giáo viên đến xã hội
Tích hợp đang gặp lực cản không chỉ từ chuyên môn mà còn từ tâm lý xã hội. Nhiều thập niên giáo dục Việt Nam phân chia thành những môn độc lập. Vì thế, khi xuất hiện môn KHTN, câu hỏi "học môn này thực chất là học gì?" là có cơ sở.
Phụ huynh lo học sinh không được học sâu từng môn. Học sinh băn khoăn về cách học, cách thi. Ở lớp 9 học KHTN nhưng khi thi vào trường THPT chuyên lại thi từng môn riêng. Điều này dễ tạo cảm giác mâu thuẫn giữa học và thi.
Còn giáo viên có lý do để dè dặt. Một giáo viên vật lý có thể tự tin trong chuyên môn, nhưng khi được yêu cầu dạy thêm hóa học, sinh học, sự thiếu tự tin nếu đào tạo chưa chuẩn bị đầy đủ.
Khi chưa đủ tự tin, cách an toàn nhất là trở về lĩnh vực quen thuộc. Khi đó, tên môn đã tích hợp nhưng cách dạy vẫn có thể chưa thực sự tích hợp.

Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2028, môn lịch sử và địa lý là tổ hợp 2 môn lịch sử và địa lý trước đây
ảnh: Đào Ngọc Thạch
Cần đánh giá bằng dữ liệu
Sau thời gian thực hiện với những bất cập đã nêu, nếu đánh giá cho thấy nội dung chưa phù hợp, cần sửa. Nếu cấu trúc môn học gây quá tải, cần điều chỉnh. Nếu tổ chức giáo viên chưa hợp lý, cần thay đổi. Nhưng cần phân biệt: môn học không hiệu quả vì thiết kế chưa phù hợp khác với môn học gặp khó khăn vì điều kiện thực hiện chưa đáp ứng.
Học sinh học chưa tốt có thể do chương trình nhưng cũng có thể do sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, thời lượng, điều kiện nhà trường hoặc năng lực giáo viên.
Vì vậy, điều cần lúc này là một cuộc đánh giá bằng dữ liệu: giáo viên đang dạy tích hợp đến đâu, năng lực liên ngành thực sự thế nào, học sinh có nhìn thấy mối liên hệ giữa các lĩnh vực kiến thức hay vẫn học rời từng phần, và các trường sư phạm đã đào tạo giáo viên tích hợp ra sao.
Muốn sửa đúng, trước hết phải chẩn đoán đúng. Đừng khai tử một mô hình chỉ vì chúng ta chưa làm đủ để nó vận hành.
Cần tính toán lại số lượng môn học, đơn vị kiến thức
Một trong các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2026-2027 của ngành giáo dục là "Sửa đổi đồng bộ chương trình giáo dục, sách giáo khoa đáp ứng các yêu cầu mới.
Là người trực tiếp giảng dạy 38 năm ở trường THCS, xin có những kiến nghị góp ý về nội dung "Sửa đổi đồng bộ chương trình giáo dục, sách giáo khoa đáp ứng các yêu cầu mới…"
Nhiều thầy cô cho rằng Chương trình 2018, hiện hành có nhiều môn học/hoạt động giáo dục. Cụ thể cấp THCS gồm có 10 môn học và 2 hoạt động giáo dục: Ngữ văn; toán; ngoại ngữ 1; giáo dục công dân; lịch sử và địa lý; KHTN; công nghệ; tin học; giáo dục thể chất; nghệ thuật (âm nhạc, mỹ thuật); hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; nội dung giáo dục của địa phương. Nhưng thực tế và thực chất là học sinh phải học 16 môn.
Môn KHTN là tích hợp của 3 môn lý, hóa, sinh; môn lịch sử và địa lý là tích hợp của môn lịch sử, địa lý; môn nghệ thuật là tích hợp môn âm nhạc và mỹ thuật; nội dung giáo dục của địa phương là tích hợp của nhiều chủ đề tùy vào từng địa phương; Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp.
Như vậy về số môn học, hoạt động giáo dục có thể nói là nhiều so với lứa tuổi khả năng nhận thức, tâm sinh lý học sinh… Vì vậy Bộ GD-ĐT cần tính toán lại số lượng môn học, đơn vị kiến thức phù hợp cho từng cấp học, lứa tuổi. Nếu có thể Bộ GD-ĐT nên bớt một số môn học, hoạt động giáo dục không thiết thực, không còn phù hợp qua thực tế.
Giáo dục công dân ở cấp THCS có thể giáo dục học sinh thông qua môn ngữ văn (dạy cách làm người sống tử tế, lương thiện, nhân ái…), trong môn lịch sử và địa lý (truyền cảm xúc về lòng yêu nước, tự hào dân tộc, những truyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: Yêu nước, đoàn kết, hiếu học, tôn sư trọng đạo…).
Về nội dung giáo dục của địa phương, hiện nay nhà trường căn cứ vào chuyên môn của từng giáo viên để phân công giảng dạy từng chủ đề phù hợp với chuyên môn. Do đó nội dung giáo dục địa phương nên tích hợp vào các môn học cụ thể như ngữ văn, lịch sử, sinh học… để giáo dục học sinh.
Nguyễn Văn Lực
(nguyên giáo viên Trường THCS Trịnh Phong, Diên Khánh, Khánh Hòa)











Bình luận (0)