ĐỘNG LỰC VÀ TÍNH CẤP THIẾT CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển nhằm tạo dựng các động lực tăng trưởng mới. Mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới, tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia hiện đại, khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; đến năm 2035, cơ bản chuyển sang mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, hướng tới hoàn thành các mục tiêu chiến lược quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
PGS-TS Vũ Sỹ Cường - Phó trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính, Học viện Tài chính - chỉ ra trên thế giới, các mô hình tăng trưởng kinh tế đều khẳng định vai trò quan trọng của KHCN, ĐMST cho các mục tiêu tăng trưởng dài hạn. Thực tế trong những năm gần đây, KHCN, ĐMST và chuyển đổi số đã trở thành động lực trung tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, được khẳng định trong nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Gần đây nhất, Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra mục tiêu xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên KHCN, ĐMST, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Do vậy, theo ông Cường, bài toán huy động nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển trở thành một trong những bài toán lớn cần được giải.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa cũng đồng tình cần đặt vấn đề này trong bối cảnh kỷ nguyên mới của kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới đang chuyển từ mô hình chủ nghĩa tư bản công nghiệp sang chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số, một mô hình dựa nhiều hơn vào công nghệ số và kinh tế xanh. Trong xu hướng đó, Việt Nam phải chuyển sang mô hình tăng trưởng gắn với chuyển đổi số, công nghệ AI và kinh tế xanh. Nếu không, sức cạnh tranh quốc tế của chúng ta sẽ giảm sút nghiêm trọng. Chẳng hạn, nếu hàng hóa Việt Nam không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển xanh thì sẽ ngày càng khó tiếp cận các thị trường quốc tế. Đây vừa là yêu cầu để theo kịp xu hướng phát triển của thế giới, vừa phù hợp với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường hiện nay.
NHỮNG TÍN HIỆU LẠC QUAN
Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam từ vị trí 48 năm 2022 đã vươn lên hạng 44 năm 2024 và duy trì thứ hạng này trong năm 2025. Nếu tính từ năm 2013, thứ hạng của Việt Nam đã tăng 32 bậc, từ vị trí 76 lên 44, sau 12 năm. WIPO đồng thời xác định Việt Nam là một trong 9 nền kinh tế thu nhập trung bình có tốc độ cải thiện thứ hạng GII nhanh nhất kể từ năm 2013. Năm 2025, Việt Nam đạt 37,1 điểm GII, đứng thứ hai trong nhóm 37 nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp. Đáng chú ý, khoảng cách giữa đầu vào và đầu ra ĐMST tiếp tục là một điểm nổi bật. Việt Nam xếp thứ 50 về đầu vào ĐMST và đứng thứ 37 về đầu ra, cho thấy khả năng tạo ra kết quả từ nguồn lực dành cho ĐMST tương đối tích cực.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, hướng tới hoàn thành các mục tiêu chiến lược quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
Song song đó, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo cũng tiếp tục mở rộng với sự tham gia của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, vườn ươm và các trung tâm hỗ trợ ĐMST. Các hệ sinh thái tại Hà Nội, TP.HCM cùng sự phát triển của Trung tâm ĐMST Quốc gia (NIC) đang góp phần tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia và các trường đại học. Cùng với đó, công nghệ ngày càng thâm nhập sâu vào các ngành kinh tế. Tài chính - ngân hàng thúc đẩy ngân hàng số, thanh toán điện tử và FinTech; thương mại điện tử gắn với nền tảng số và logistics công nghệ; trong khi nông nghiệp tăng cường ứng dụng internet vạn vật (IoT), cảm biến, dữ liệu lớn và tự động hóa.
Tuy nhiên, những kết quả tích cực bước đầu không đồng nghĩa với việc các điểm nghẽn đã được tháo gỡ. Đặc biệt, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn là vấn đề cần được cải thiện để nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và khả năng tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
PGS-TS Vũ Sỹ Cường phân tích Việt Nam chi đầu tư tối thiểu 2% GDP cho hoạt động nghiên cứu KHCN, bao gồm cả chi cho đầu tư cơ sở hạ tầng và chi thường xuyên cho nghiên cứu, gần đây quy định yêu cầu tăng quy mô lên 3% GDP. Việc tăng quy mô đầu tư cho KHCN, ĐMST sẽ tạo cơ hội để dẫn dắt sự tham gia của các khu vực kinh tế khác cũng như hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản để tạo ra nền tảng KHCN và ĐMST quốc gia. Các chính sách tài chính cũng bước đầu khuyến khích doanh nghiệp đầu tư R&D thông qua hỗ trợ đổi mới công nghệ, tín dụng, kỹ thuật và dự án. Đặc biệt, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22.12.2024 đã tạo định hướng chiến lược mới về huy động và sử dụng nguồn lực cho KHCN, ĐMST và chuyển đổi số.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, hướng tới hoàn thành các mục tiêu chiến lược quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
Tuy nhiên, thách thức lớn theo ông Vũ Sỹ Cường là mức đầu tư cho R&D của cả Nhà nước và tư nhân vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Dù có quy định chi tối thiểu 2% ngân sách cho KHCN, tỷ lệ thực tế năm 2024 mới đạt 1,97%. Nguồn lực hạn chế, phân bổ dàn trải và thủ tục hành chính khiến quy mô tài trợ nhỏ, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Đầu tư công cho R&D thấp cũng khiến cơ sở hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển nguyên mẫu còn thiếu, cản trở thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thu hút các dự án công nghệ cao. Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ do thủ tục phức tạp, chi phí cao, điều kiện vay chưa hấp dẫn và thiếu thông tin. Thị trường vốn và đầu tư mạo hiểm cho KHCN còn kém phát triển, trong khi chính sách thuế chưa tạo tác động rõ rệt.
Ở một góc nhìn khác, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng thách thức lớn nhất trước hết nằm ở nền tảng công nghệ, mà một trong những yếu tố quan trọng là hệ thống các trung tâm dữ liệu quốc gia. Các trung tâm dữ liệu phải đủ lớn, đồng thời dữ liệu phải được khai thác một cách bình đẳng và an toàn. Ví dụ, Mỹ hiện có hàng nghìn trung tâm dữ liệu, Trung Quốc cũng có hàng trăm trung tâm dữ liệu, trong khi Việt Nam mới ở giai đoạn đầu và hệ thống vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Muốn phát triển kinh tế số thì trước hết phải có dữ liệu. Muốn phát triển AI cũng phải có dữ liệu. Không có dữ liệu thì rất khó phát triển. Vì vậy, vấn đề đầu tiên là phải đầu tư vào dữ liệu, bao gồm xây dựng kho dữ liệu, phát triển khoa học dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý dữ liệu. Tuy nhiên, đầu tư vào dữ liệu cũng đồng nghĩa với nhu cầu sử dụng năng lượng rất lớn. Do đó, phát triển hạ tầng số phải đi cùng với đầu tư vào năng lượng.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, hướng tới hoàn thành các mục tiêu chiến lược quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
Thách thức thứ hai, theo ông Lê Xuân Nghĩa là phải lựa chọn và đầu tư vào một số ngành công nghệ chủ chốt để theo kịp tốc độ phát triển công nghệ của thế giới, đặc biệt là AI và quá trình số hóa nền kinh tế. Trước đây, khi Việt Nam chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, chúng ta tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp. Bây giờ, khi chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế số, chúng ta cũng phải tiến hành số hóa công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Đây là một vấn đề rất lớn. Thách thức thứ ba là năng lực tài chính. Việt Nam cần nguồn lực để mua công nghệ, tiếp thu và làm chủ công nghệ, đồng thời xây dựng các phòng thí nghiệm, xưởng thử nghiệm và các cơ sở nghiên cứu công nghệ. Nghiên cứu và phát triển công nghệ đòi hỏi phải thử nghiệm nhiều lần mới có thể thành công, và không phải khoản đầu tư nào cũng thành công. Vì vậy, cần nguồn lực tài chính rất lớn và có cơ chế chia sẻ rủi ro. Một vấn đề rất quan trọng nữa là nhân tài. Từ khoa học, công nghệ số cho đến công nghệ phục vụ kinh tế xanh đều cần đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, Việt Nam không chỉ phải đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải có chính sách thu hút nhân tài trong nước lẫn nước ngoài.
GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
Để đẩy mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số tại Việt Nam, theo PGS-TS Vũ Sỹ Cường, cần cải cách mạnh mẽ chính sách để huy động nguồn lực tài chính. Đó là tăng và đổi mới chi ngân sách nhà nước cho KHCN, ĐMST. Bảo đảm nguồn lực khoảng 3% ngân sách, chuyển từ cấp kinh phí theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả; dùng ngân sách làm vốn mồi để thu hút đầu tư ngoài nhà nước. Tạo ưu đãi để doanh nghiệp tăng đầu tư qua việc hoàn thiện ưu đãi thuế cho R&D, đơn giản hóa thủ tục; khuyến khích Nhà nước đặt hàng, mua sản phẩm đổi mới sáng tạo và hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, tăng liên kết doanh nghiệp trong nước với chuỗi giá trị trong và ngoài nước, tạo nhu cầu và động lực để doanh nghiệp đầu tư cho KHCN, ĐMST.
"Phát triển thị trường vốn cho ĐMST, đặc biệt mở rộng quỹ đầu tư mạo hiểm, thị trường vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp và công nghệ; xây dựng cơ chế thoái vốn phù hợp để thu hút nhà đầu tư. Đồng thời, thu hút FDI gắn với R&D và chuyển giao công nghệ, ưu tiên các dự án FDI có hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và liên kết, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Hoàn thiện hệ sinh thái ĐMST, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao", ông Vũ Sỹ Cường khuyến nghị.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, hướng tới hoàn thành các mục tiêu chiến lược quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
Trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng vai trò của Nhà nước rất quan trọng, đặc biệt là trong việc hỗ trợ khu vực tư nhân. Những khoản đầu tư vào KHCN thường rất lớn và có rủi ro cao. Doanh nghiệp có thể đầu tư nhiều nhưng có khi thất bại. Do đó, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp cả về nhân lực và tài chính, đồng thời có cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi thành công, những dự án này có thể tạo ra hiệu quả kinh tế rất lớn, nhưng trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm thì khả năng thất bại luôn tồn tại. Ông Lê Xuân Nghĩa đề xuất: "Một cách làm quan trọng là Nhà nước có thể đầu tư mồi hoặc đặt hàng doanh nghiệp phát triển công nghệ".
Chuyên gia này dẫn ví dụ một doanh nghiệp nghiên cứu một loại xe chữa cháy hiện đại có khả năng chữa cháy ở các tòa nhà cao tầng và Nhà nước có thể đặt hàng sản phẩm đó. Khi Nhà nước tham gia đầu tư ban đầu và cam kết đầu ra, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực và nguồn lực để đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ. Đây cũng là cách nhiều quốc gia đã áp dụng: Nhà nước đặt hàng những công nghệ mới, tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm; khi công nghệ đủ trưởng thành và có khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường, kể cả xuất khẩu.
Ở cạnh một quốc gia là công xưởng của cả thế giới cũng tạo ra sức ép rất lớn làm giảm nhu cầu R&D và ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam khi mọi sản phẩm luôn có thể được cung cấp với quy mô và giá rất cạnh tranh từ Trung Quốc. Ngoài ra, cơ chế quản lý R&D và năng lực đội ngũ nghiên cứu còn hạn chế, trong khi nhiều chính sách huy động nguồn lực mới chưa có hướng dẫn cụ thể.
PGS-TS Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính
Đầu tư cho khu vực tư nhân phát triển KHCN, ĐMST
Đầu tư cho KHCN, ĐMST nên tập trung chủ yếu vào hỗ trợ khu vực tư nhân. Có thể thực hiện theo 2 hướng: một là hỗ trợ tài chính để doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển công nghệ. Hai là Nhà nước trực tiếp đặt hàng, mua các sản phẩm và công nghệ mà doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển. Cách làm này có thể hiệu quả hơn so với việc Nhà nước tự thực hiện toàn bộ quá trình nghiên cứu và sản xuất. Nhà nước nên tập trung vào những lĩnh vực liên quan đặc biệt đến quốc phòng, an ninh hoặc những lĩnh vực mà khu vực tư nhân khó có thể tự đảm nhiệm, còn lại nên tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân trở thành lực lượng chủ yếu trong phát triển KHCN, ĐMST.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa










Bình luận (0)