"Nút thắt" vốn xanh
Việt Nam hiện có 443 KCN với tổng diện tích gần 95.000 ha, trong đó 301 KCN đang hoạt động. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1 - 2% KCN đang chuyển đổi hoặc đáp ứng các tiêu chí "xanh - sinh thái - tuần hoàn". Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển bền vững và thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, xanh hóa KCN đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Theo Savills, Việt Nam hiện có 7 KCN sinh thái thí điểm, chiếm khoảng 1% tổng số KCN, được triển khai với sự phối hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chương trình KCN Sinh thái của UNIDO. Ngoài ra, khoảng 15 - 20 KCN khác đang trong quá trình chuyển đổi hoặc áp dụng các giải pháp xanh. Như vậy, tổng số KCN đang đi theo hướng này vẫn dưới 5% cả nước, trong khi phần lớn KCN truyền thống vẫn vận hành theo mô hình cũ.
Đáng chú ý, nhu cầu về KCN xanh đang tăng nhanh, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài với yêu cầu ngày càng cao về ESG. Savills nhận định, bất động sản công nghiệp đang bước sang giai đoạn phát triển mới, trong đó tăng trưởng không chỉ dựa trên mở rộng diện tích mà còn phụ thuộc vào chất lượng dự án, quy mô đầu tư và giá trị gia tăng. Các dự án đạt chứng chỉ LEED, EDGE hay phát triển theo mô hình KCN xanh ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, vốn đang là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình xanh hóa KCN. Một KCN xanh không chỉ cần hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn mà còn phải đầu tư vào tái sử dụng nước, tuần hoàn chất thải, tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo, quản lý phát thải, hạ tầng số và giao thông xanh.
Viện Khoa học công nghệ xây dựng (AIST) cũng đánh giá, Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ chiến lược khi quy mô các KCN truyền thống tăng nhanh nhưng cũng kéo theo áp lực lớn về môi trường và tài nguyên. Do đó, việc định hướng chiến lược để phát triển mạng lưới KCN sinh thái mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết. Thế nhưng việc triển khai gặp nhiều thách thức lớn. Chi phí đầu tư hạ tầng KCN sinh thái thường cao hơn 20 - 30% so với KCN truyền thống. Trong khi các quỹ "tài chính xanh" tại Việt Nam vẫn hạn chế, còn cách tiếp cận công nghệ cộng sinh và xử lý tuần hoàn mới chỉ dừng ở giai đoạn ứng dụng thử nghiệm.
Đó là những nhận định đúng với thực tế. Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), từ năm 2017 đến nay, tín dụng xanh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực và có mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, tính trên tỷ lệ tuyệt đối thì vẫn còn rất khiêm tốn. Cụ thể, năm 2024 tăng 9,5%; năm 2025 tăng 14,62%. Đến hết quý 1/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 828.000 tỉ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với năm 2017, chỉ chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Mới đây, NHNN có công văn cho phép 25 ngân hàng thương mại (NHTM) không phải tính phần dư nợ tăng thêm đối với khu công nghiệp vào hạn mức kiểm soát tín dụng bất động sản. Đây không đơn thuần là việc nới "room" tín dụng, mà còn là thông điệp về định hướng dẫn vốn vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.

Điểm nghẽn từ pháp lý đến giải phóng mặt bằng
Ngoài tài chính, các chủ đầu tư còn đối mặt với điểm nghẽn về thủ tục pháp lý cũng như giải phóng mặt bằng. Tại diễn đàn "Đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp: Cập nhật quy định và khuyến nghị thực thi", LS Bùi Văn Thành, Phó chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam cho biết, các nhà đầu tư phát triển hạ tầng thường mong muốn triển khai các dự án đầu tư dài hạn trong KCN tuy nhiên khung pháp lý vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến khả năng tiếp cận quỹ đất, gia hạn thời hạn sử dụng đất. Đồng thời, thủ tục phê duyệt dự án đầu tư còn phức tạp và có sự điều chỉnh khác nhau giữa các địa phương. Trong quá trình triển khai dự án cũng xảy ra không ít vấn đề khiến quá trình triển khai dự án kéo dài, chậm tiến độ. Chẳng hạn, KCN không kịp thời trong công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng khiến chủ đầu tư không có đất triển khai; chủ đầu tư chậm triển khai hạ tầng khiến ban quản lý không thể thu hút doanh nghiệp thứ cấp; trách nhiệm giữa các bên không rõ ràng dẫn đến phát sinh xung đột… Do hợp đồng thuê lại đất, hạ tầng KCN chưa chuẩn hóa, giá thuê tăng đột biến do lạm phát, dẫn đến việc tăng mạnh tranh chấp về hợp đồng thuê lại đất, hạ tầng; tranh chấp liên quan đến phí thuê đất...
Đơn cử TP.HCM, trung tâm công nghiệp lớn nhất Việt Nam sau sáp nhập với 67 khu chế xuất và KCN đã được thành lập, trong đó 58 khu đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy khoảng 70%. Theo quy hoạch tầm nhìn đến năm 2050, thành phố sẽ phát triển tổng số 105 KCN với tổng diện tích khoảng 50.000 ha. Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp TP.HCM (HEPZA) cho biết, đang triển khai ba hướng chuyển đổi lớn gồm: phát triển mô hình KCN sinh thái; chuyển đổi tổng thể hệ thống KCX - KCN gắn với tái cơ cấu ngành công nghiệp chủ lực, hướng đến KCN sinh thái, xanh và thông minh; chuyển đổi năng lượng để phát triển KCN xanh.
Về mô hình KCN sinh thái, HEPZA đã phối hợp với UNIDO, GIZ và nhiều đối tác thí điểm tại 5 khu trên địa bàn 3 tỉnh, thành: VSIP và VSIP mở rộng, Cây Trường tại Bình Dương; Hiệp Phước tại TP.HCM; Phú Mỹ 3 tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Đến nay, các khu này đã cơ bản đáp ứng các tiêu chí của KCN sinh thái. Tuy nhiên HEPZA thừa nhận, việc nhân rộng KCN sinh thái đang gặp 5 khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là chi phí đầu tư vào công nghệ sinh thái rất cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn để đáp ứng các tiêu chí; cơ chế chính sách ưu đãi chưa đủ rõ ràng và hấp dẫn về thuế, đất đai và các ưu đãi khác. Thêm vào đó, hạ tầng kỹ thuật của phần lớn KCN hiện tại đã cũ nên chi phí cải tạo rất lớn. Đồng thời, nguồn nhân lực để vận hành KCN sinh thái và quản trị doanh nghiệp sinh thái còn thiếu, cần thời gian để đào tạo đội ngũ quản lý đủ năng lực. Việc thực hiện cộng sinh công nghiệp trong các KCN đang vướng khoảng trống pháp lý do các quy định cụ thể cho hoạt động này hiện chưa rõ ràng. Ngoài ra, quy hoạch hệ thống KCX - KCN đang phải đối diện với 2 thách thức lớn mang tính nền tảng. Đó là quy hoạch khung của thành phố sau sáp nhập chưa được phê duyệt, trong khi đây là căn cứ quan trọng để xây dựng đề án nhưng hiện chưa có để bám vào. Đồng thời, đề án tái cơ cấu cần đi trước quy hoạch, nhưng định hướng điều chỉnh quy hoạch chưa đủ rõ ràng, mặc dù định hướng chung của 3 vùng cũ vẫn được giữ nhưng sẽ cần điều chỉnh phù hợp với thành phố lớn hơn sau sáp nhập.

Chậm chuyển đổi, khó đón "đại bàng"
Trong bối cảnh toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế carbon thấp, giảm phát thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả, Việt Nam đặt mục tiêu đẩy mạnh phát triển KCN xanh - sinh thái như một trọng tâm trong giai đoạn 2025 - 2035 nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập, thu hút đầu tư chất lượng cao, hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ CBAM, EVFTA, CPTPP và góp phần mục tiêu Net Zero 2050.
Trước nhu cầu này, thạc sĩ - kỹ sư Nguyễn Đình Quyền - Giám đốc điều hành ESG Education & Business khuyến nghị, Nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng, chuyển đổi KCN xanh - sinh thái. Nhà nước có thể xây dựng khung tiêu chí, lộ trình, nền tảng dữ liệu, cơ chế tín dụng và ưu đãi cho đầu tư xanh, hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và kết nối nguồn vốn. Đồng thời, có thể tạo cơ chế để các KCN chia sẻ dữ liệu, kết nối các DN và hình thành mạng lưới cộng sinh công nghiệp. Ở chiều ngược lại, DN phải chủ động xây dựng chiến lược, tìm kiếm đối tác và đầu tư vào năng lực quản trị. Nếu chỉ chờ chính sách hỗ trợ mà DN không chủ động thay đổi thì rất khó tạo ra một KCN sinh thái thực chất.
Ông Nguyễn Đình Quyền cũng đồng quan điểm, chi phí đầu tư KCN xanh - sinh thái cao hơn KCN thông thường từ 20 - 30% tuy nhiên theo ông Quyền, chủ đầu tư không nhất thiết phải tự bỏ toàn bộ vốn để xây dựng tất cả hạ tầng xanh. Điều quan trọng là phải quy hoạch và thiết kế hệ sinh thái ngay từ đầu, sau đó tìm kiếm các đối tác chuyên ngành. Các DN năng lượng có thể tham gia đầu tư hệ thống năng lượng, chuyên về hơi có thể đầu tư trung tâm cung cấp hơi, DN môi trường tham gia xử lý và tái chế chất thải, các công ty công nghệ xây dựng nền tảng quản lý dữ liệu. Cùng với đó, chủ đầu tư có thể tiếp cận các nguồn vốn xanh, tín dụng xanh, nguồn vốn quốc tế và các tổ chức tài chính chuyên về phát triển bền vững. Như vậy, vai trò của chủ đầu tư không chỉ là người bỏ vốn xây dựng hạ tầng mà trở thành đơn vị tổ chức và kết nối hệ sinh thái. "Không nhất thiết chủ đầu tư phải đầu tư tất cả. Điều quan trọng là phải xây dựng được chiến lược và có đủ năng lực để kêu gọi những đối tác phù hợp tham gia", ông Quyền cho hay.
Liên quan đến câu chuyện giải phóng mặt bằng, ông Nguyễn Đình Tùng nói thẳng, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết thủ tục cũng như giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn thì chủ đầu tư KCN cũng phải có trách nhiệm trong việc tạo sinh kế, hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm trong các nhà máy hoặc tạo ra những dịch vụ để người dân địa phương có thể tiếp tục có thu nhập. Khi KCN tạo ra giá trị thực sự cho địa phương thì quan hệ giữa doanh nghiệp, người dân và Nhà nước cũng sẽ tốt hơn.
"Sức ép từ chuỗi cung ứng quốc tế đang tạo thêm động lực để thay đổi mô hình. Khi các DN ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường, phát thải và truy xuất nguồn gốc, lợi thế của một KCN không còn nằm chủ yếu ở giá đất hay ưu đãi thuế. Nếu các KCN trong nước không thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ KCN truyền thống sang KCN xanh, sinh thái thì những "đại bàng" khi chọn Việt Nam sẽ vào các KCN của DN nước ngoài. Chúng ta sẽ mất thị phần trên chính sân nhà", ông Quyền cảnh báo.
"KCN cần được nhìn nhận như một mô hình kinh doanh mới, trong đó giá trị không chỉ đến từ đất mà còn từ hạ tầng, công nghệ, dữ liệu và hệ sinh thái dịch vụ. Đây không những hỗ trợ cho các DN xuất khẩu hàng ra nước ngoài đạt chuẩn xanh mà còn là nơi quy tụ các nhà đầu tư nước ngoài", ông Nguyễn Đình Quyền cho hay.
Theo AIST, quy hoạch mạng lưới KCN sinh thái quốc gia được xác định là giải pháp tổng thể. Thông qua việc phân vùng theo sáu vùng kinh tế, Việt Nam có thể khai thác thế mạnh địa phương: vùng Đồng bằng sông Hồng ưu tiên KCN sinh thái công nghệ cao; vùng Trung du và miền núi Bắc bộ tập trung chế biến khoáng sản, nông - lâm sản; vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển chế biến nông - thủy sản gắn kinh tế tuần hoàn sinh khối. Cách tiếp cận này tối ưu hóa nguồn lực, tạo liên kết vùng và đẩy mạnh lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường. Tích hợp KCN sinh thái với hành lang kinh tế xanh, trung tâm đổi mới sáng tạo và đô thị vệ tinh để hình thành "cụm công nghiệp sinh thái". Mỗi cụm sẽ kết nối chặt chẽ các doanh nghiệp qua hệ thống xử lý nước thải chung, trao đổi phụ phẩm hữu cơ và năng lượng tái tạo, bước biến ý tưởng "mạng lưới tuần hoàn" thành hiện thực.
Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc NHNN Chi nhánh Khu vực 2:
Ngành ngân hàng đang phối hợp với Ban Quản lý các KCN, khu kinh tế để triển khai chính sách tín dụng. Các ngân hàng được định hướng ưu tiên vốn cho những dự án thuộc danh mục phân loại xanh, mang lại lợi ích môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và từng bước lồng ghép ESG vào chiến lược phát triển. NHNN cũng đang trình Chính phủ dự thảo nghị định hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp tư nhân, hộ và cá nhân kinh doanh vay vốn thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG.









Bình luận (0)