Chỉ 10 - 15% sinh viên đạt chuẩn đầu ra tiếng Anh?

3 Thanh Niên
Nhiều học sinh dù được học tiếng Anh trong suốt thời gian dài nhưng không thể nói một câu tiếng Anh hoàn chỉnh. Rất nhiều sinh viên không đáp ứng được chuẩn đầu ra của trường ĐH và doanh nghiệp.
Một giờ học tiếng Anh của sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM  /// Đào Ngọc Thạch Một giờ học tiếng Anh của sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM - Đào Ngọc Thạch
Một giờ học tiếng Anh của sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM
Đào Ngọc Thạch
Thông tin này đã được nêu ra trong hội thảo “Xu hướng mới trong giảng dạy ngoại ngữ thích ứng với cách mạng công nghiệp lần thứ 4” do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức ngày 14.12.

Đạt chuẩn ĐH nhưng thiếu chuẩn doanh nghiệp

Trong bài tham luận của thạc sĩ Nguyễn Lê Tú Trâm, Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, ngày nay tiếng Anh là một trong những yêu cầu bắt buộc trong thông báo tuyển dụng của các cơ quan và doanh nghiệp. Nhưng tiêu chí đánh giá năng lực tiếng Anh giữa nhà tuyển dụng và nhà trường thực sự có độ chênh lệch nhất định. Phổ biến nhất là việc sinh viên (SV) ra trường đạt chuẩn đầu ra tiếng Anh của nhà trường nhưng vẫn chưa sử dụng tốt trong môi trường làm việc tại các doanh nghiệp.

Cũng theo thạc sĩ Trâm, số liệu của Jobstreet.com công bố năm 2015 chỉ có 5% SV mới ra trường tự tin về khả năng tiếng Anh nhưng có đến 27% thừa nhận khả năng ngoại ngữ của họ rất kém. Hằng năm, SV ra trường chật vật tìm kiếm việc làm vì số người năng lực tiếng Anh kém đang chiếm số lượng không nhỏ. Đây là rào cản khiến nhân sự VN thiếu tự tin trên tiến trình hội nhập.
Trước đó, số liệu gây sốc về chuẩn đầu ra tiếng Anh của SV ĐH Quốc gia TP.HCM cũng được công bố tại hội nghị “Chuẩn trình độ tiếng Anh tại ĐH Quốc gia TP.HCM: Thực trạng và giải pháp” tổ chức năm 2017. Tính đến tháng 12.2016, ở bậc ĐH, tỷ lệ SV chuẩn đầu ra theo quy định chứng chỉ tiếng Anh VNU-ETP còn khá thấp, dao động trong khoảng 10 - 15%. Đối với bậc sau ĐH, tỷ lệ học viên cao học chưa đáp ứng chuẩn trình độ tiếng Anh để tốt nghiệp tăng dần: 41% khóa 2013 lên đến 50,8% khóa 2015.
Thạc sĩ Trịnh Huỳnh Chấn, Khoa Ngoại ngữ Trường ĐH Thủ Dầu Một, cũng đặt vấn đề: “Học sinh được học tiếng Anh từ rất sớm, có những địa phương đưa vào từ chương trình lớp 2 và học xuyên suốt 11 năm cho đến khi ĐH, CĐ. Tuy nhiên sau thời gian dài hiệu quả thu lại không đáng kể, nhiều học sinh, SV không nói được một câu tiếng Anh hoàn chỉnh hoặc nói sai ngữ pháp, phát âm không chuẩn, đặc biệt khả năng nghe rất kém”.
Thạc sĩ Lê Hoàng Tiến (Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM) và thạc sĩ Võ Thị Ngọc Hà (Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM) thông tin, qua một khảo sát nhanh với 500 SV các trường ĐH tại TP.HCM, phần lớn họ chưa có một nhận định rõ ràng về tiếng Anh chuyên ngành cũng như không tự tin giao tiếp tiếng Anh sau khi tốt nghiệp ĐH, đặc biệt trong môi trường làm việc.

Mỗi học sinh chỉ có 1 phút trong mỗi tiết học

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Theo thạc sĩ Nguyễn Lê Tú Trâm, phương pháp dạy và học tiếng Anh tại nhiều trường ĐH chưa hiệu quả. Chương trình đào tạo không chuyên thường chỉ có 4 - 6 học phần với 45 - 60 tiết/học phần nhưng phân bổ dàn trải trong thời gian dài 2 - 3 năm. Ngoài tiết học trên lớp, trường không tổ chức được môi trường cho SV rèn luyện, thực hành và giao tiếp tiếng Anh thường xuyên. Ngoài ra, nền tảng tiếng Anh đầu vào của SV khá thấp và không đồng đều là trở ngại lớn khi bước vào giảng đường ĐH. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, điểm thi tiếng Anh trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 có hơn 78% thí sinh dưới trung bình. Bên cạnh đó, khả năng tự học của SV khá thấp.
Thạc sĩ Trịnh Huỳnh Chấn thì thẳng thắn khi chỉ ra rằng đề thi, đề kiểm tra quá nặng kỹ năng đọc - viết. Dù chương trình học được biên soạn đầy đủ 4 kỹ năng, nhưng khi đánh giá thì chú ý kỹ năng đọc viết, thường chiếm từ 80% trở lên và thậm chí ở đề thi THPT quốc gia 100%.
“Bên cạnh đó, lớp học quá đông, một lớp học phổ thông sĩ số trung bình từ 40 - 50 học sinh, một tiết học kéo dài 45 phút thì trung bình mỗi học sinh chỉ được sử dụng 1 phút/tiết. Thử hỏi như vậy thì cơ hội thực hành của các em là nhiều hay ít?”, thạc sĩ Chấn đặt câu hỏi.
Ngoài ra, theo tác giả này, nguyên nhân còn do nhiều giáo viên chuyên môn chưa thật sự tốt ở kỹ năng nghe - nói.
Giải pháp công nghệ
PGS-TS Vũ Hải Quân, Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, cũng cho rằng hiện còn nhiều thách thức đặt ra với ĐH Quốc gia TP.HCM trong giảng dạy tiếng Anh giai đoạn tới. Ngoài cơ sở vật chất thì còn nhiều khó khăn khác như thiếu những giảng viên có kinh nghiệm, việc đánh giá cũng đang có vấn đề.
Về giải pháp, ông Quân cho rằng: “Công nghệ là một trong những giải pháp để phát huy các rào cản. Nếu dùng công nghệ, SV có thể học ở nhà mà không phải đến lớp. Nhưng về lâu dài, trong hệ thống chúng ta vẫn thiếu một “kiến trúc sư trưởng” - người thiết kế chương trình và xây dựng tài nguyên học tập, định hướng phương pháp đánh giá”.
“Chúng ta thường quan niệm học tiếng Anh để giao tiếp nhưng theo tôi học tiếng Anh là để học. Học ở đây là học về chuyên môn, văn hóa, lịch sử, con người. Nên trước hết cần có sự chuyển dịch rất lớn về cách nghĩ”, ông Quân nói.

Bình luận 3

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết
VanNguyen

VanNguyen

Học tiếng Anh để làm gì không phải là câu hỏl của bất kỳ ai, bất kỳ quốc gia nào trong thời đại ngày nay. Việt nam đang hội nhập sâu và rộng nhiều lĩnh vực trên thế giới; mười mấy năm học tiếng Anh mà nói một câu không ra hồn thì làm sao hội nhập. Học một ngôn ngữ là phải toàn diện Nghe, Nói, Đọc, Viết. Không thể xem nhẹ phần nào !
Lee Huy

Lee Huy

Việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam mình tồn tại nhiều vấn đề từ trên đến dưới, từ Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GDĐT) cho đến nhà trường và cuối cùng là người học. Theo sự hiểu biết có giới hạn của bản thân, có 4 nguyên nhân gây khó khăn trong việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam.
Thứ nhất, trách nhiệm của Bộ GDĐT là nghiên cứu, đề xuất thử nghiệm, đánh giá, ra chỉ đạo thực hành, và kiểm tra phương pháp dạy và học tốt nhất cho nhà trường và người học. Tuy nhiên, mặc dù Bộ GDĐT đã có cố gắng đưa chương trình VNEN vào các trường học ở nhiều tỉnh thành và tiêu tốn cả mấy ngàn tỷ đồng, thất bại vẫn hoàn thất bại. Thầy, cô, phụ huynh, học sinh sinh viên, và các bộ phận cơ quan liên quan đến ngành giáo dục nói gì về những yếu kém của VNEN, ai trong chúng ta cũng đều biết. Do đó, để có được một chương trình học tập tốt và có hiệu quả đồng bộ, Bộ GDĐT cần nên có sự trợ giúp của một ban tham mưu với những giáo sư ưu tú và có tâm huyết từ khắp các mọi miền đất nước. Thứ hai, chương trình dạy tiếng Anh ở các trường học trên toàn quốc không đồng bộ và luôn trong tình trạng thiếu thốn các nguồn tài nguyên hay năng lực. Do đó, chương trình dạy tiếng Anh được đưa ra không phù hợp với thật tế và không thể phát huy được. Thứ ba là yếu tố nhân lực và năng lực. Người quản lý cũng như người đứng lớp cần phải có kiến thức chuyên môn về tiếng Anh và có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo cả năm (5) kỹ năng: nghe, nói, viết, đọc, và hiểu. Hiện nay trong xã hội của chúng ta có một số thầy, cô là giáo viên/giảng viên đang đứng lớp dạy tiếng Anh ở trường và đồng thời cũng là “gia sư” tiếng Anh tại nhà cho nhiều học sinh nhưng khi trao đổi tiếng Anh với người nước ngoài thì cái sự “lưu loát” trong lớp không tồn tại nữa mà thế vào đó là những nụ cười rất “dể thương” vì quên....từ tiếng Anh! Còn khi gặp Việt kiều thì “nói tiếng Việt cho thân mật nhé!”. Chất lượng tiếng Anh của đại đa số các “gia sư” này rất “thượng vàng hạ cám” và giọng điệu phát âm rất “nặng” theo thổ âm của người Việt. Thêm vào đó, tốc độ nói tiếng Anh của các thầy cô này rất nhanh và phần đông đều có dấu hiệu “nuốt âm từ” làm cho người nghe phải “choáng váng” lắng nghe. Người nghe không “thấu” nhưng khi hỏi lại cho rõ thì bị thầy, cô chê là “...tiếng Anh của em dở quá nên nghe mà không hiểu thầy, cô nói gì. Về học lại nhé.” !!!??? Điều đáng quan tâm trong vấn đề này không chỉ là năng lực mà còn là về bằng cấp và sự quản lý nữa. Một bộ phận không nhỏ của các thầy cô dạy tiếng Anh có nhiều chứng chỉ và bằng cấp chuyên tiếng Anh, có người còn treo đầy cả phòng làm việc! Hình như đây là việc làm phổ biến vì chúng ta quá coi trọng và tin tưởng vào những cái bằng cấp có dấu đóng nổi như thế kia. Với thời đại công nghệ bùng phát như hiện nay, chúng ta vẫn hay nghe các trò mua bán bằng cấp hoặc là các phi vụ dùng bằng giả của các quan chức để được thăng tiến đó hay sao? Ai quản lý và kiểm tra hay đánh giá trình độ chuyên môn tiếng Anh của thầy, cô? Và, người làm công việc này có hội tụ đầy đủ kiến thức cũng như công tâm để đánh giá người khác hay không? Thứ tư, người học và động cơ học tiếng Anh cũng là vấn đề đáng quan tâm trong quá trình dạy và học tiếng Anh. Mỗi người trong chúng ta có những niềm đam mê khác nhau trong cuộc sống, trong việc học tập, cũng như trong sự nghiệp tương lai. Có người mong làm bác sĩ, kỹ sư, có người lại muốn làm kinh doanh hay kế toán, v...v.. và v..v. Vì thế, tùy theo nhu cầu và mong ước của từng người, việc học tiếng Anh đôi khi không là sự cần thiết. Nếu không có đam mê, nhu cầu, hay sự tự nguyện để học tiếng Anh, người ta sẽ khó mà thành công trong việc học tập môn này. Do đó việc bắt buộc học sinh sinh viên phải đạt một trình độ nhất định môn tiếng Anh mới được ra trường và dùng số liệu đó để đánh giá trình độ tiếng Anh của sinh viên học sinh là không thật tế. Tại sao? Bởi lẽ các em chỉ học để đối phó và ra trường, sau đó thì sẽ quên hết. Đây là một trong những nguyên nhân vì sao nhiều sinh viên đã trường mà vẫn “câm và điếc” với tiếng Anh. Học để đối phó các kỳ thi, học để lấy giờ tín chỉ để ra trường, và để nhận bằng cấp nhưng những gì đã học thì “theo mây gió đi muôn phương”. Phải chăng đây là một sự lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc, và tài nguyên của rất nhiều người trong xã hội của chúng ta ngày hôm nay?
Đã gần hơn một năm nay bản thân mình đã dành nhiều thời gian dạy tiếng Anh miễn phí trên mạng cho nhiều học sinh sinh viên VN có nhu cầu học tiếng Anh chuyên ngành Điều Dưỡng. Khi mình mới mở lớp có rất rất nhiều người muốn học nhưng thật sự thì đại đa số các học sinh hay sinh viên này chỉ mong được học nói và giao tiếp được cho nhanh. Học tiếng Anh thôi đã là khó cho nhiều người, học tiếng Anh chuyên ngành Y còn khó hơn bội phần. Có nhiều người nghĩ là biết tiếng Anh giao tiếp là có thể học giao tiếp chuyên ngành bằng tiếng Anh ngay. Sự thật không phải dể dàng như vậy bởi lẽ khi học tiếng Anh giao tiếp thông thường thì cần học và biết từ vựng trước rồi mới học ngữ pháp và giao tiếp sau. Tiếng Anh chuyên ngành cũng vậy, đặc biệt là ngành Y vì các từ ngữ chuyên môn rất khó phát âm và nhớ nếu không có kiến thức về Điều Dưỡng nói riêng hay ngành Y nói chung. Tuy nhiên, để nắm vững kiến thức cơ bản của ngành và tiếp thu các từ ngữ chuyên môn, việc học thuật ngữ chuyên ngành là điều cần thiết bởi lẽ ngay cả người Mỹ còn phải học lớp này đừng nói chi người đang học tiếng Anh. Nhưng theo mình nhận thấy, một số học sinh sinh viên VN chỉ muốn học giao tiếp cho nhanh vì 1 lý do nào đó, học cho có cái gọi là học mà không cần vững chắc. Mình gọi đó là học tiếng Anh theo kiểu xây căn nhà mà không cần nền móng! Học tiếng Anh để biết, để giao tiếp được lưu loát và tự tin là một hành trình dài cần nhiều thời gian rèn luyện và một niềm đam mê. Để giải quyết những bất cập về việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam cũng như để nâng cao trình độ tiếng Anh của con em chúng ta một cách có hiệu quả và ít tốn kém nhất có thể, chúng ta cần nhìn lại các thử thách nêu trên và xóa bỏ những yếu kém đang tồn tại để xây dựng lại 1 quy trình dạy và học tiếng Anh sát với thật tế ở tất cả các môi trường học tập.
Hà Lê

Hà Lê

Nêu ra đủ thứ lý do, trong đó đa phần là lỗi của GV (có cả sự moi móc và cố chụp mũ, vơ đũa cả nắm GV là dở) nhưng kg thấy ai nêu được cái ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT khi học tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào) là sĩ số lớp chỉ được từ 10 đến 15 HS? Trước 1 lớp 40, 50 HS thì Tiến sĩ, GS nào cũng kg dạy nghe nói nổi!!! Có vậy thôi.

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm

Chức năng mới

Trang tin tức cá nhân hoá dựa trên sở thích và thói quen của bạn.

Đóng