Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 5: Thay đổi tư duy tận gốc

0
Phải có những thay đổi mạnh mẽ và quyết liệt từ các cấp cơ sở đến nhà nước, chuyển biến tận gốc về mặt tư duy mới mong nghiên cứu khoa học của Việt Nam bước vào dòng chảy thế giới.

Tăng chất lượng qua phân tầng ĐH

Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 5: Thay đổi tư duy tận gốc - ảnh 1

Cơ chế quan liêu trong việc phân bổ kinh phí nghiên cứu cần được bãi bỏ và thay bằng những phương pháp cạnh tranh

Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 5: Thay đổi tư duy tận gốc - ảnh 2

Giáo sư Martin Hayden

GS-TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho rằng việc nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường ĐH hiện nay đang bị phân tán về năng lực, không tạo được sức mạnh. Việc đầu tư cho NCKH của các trường cũng chưa có cơ sở tập trung. Cứ để tình trạng như hiện nay thì mãi mãi NCKH trong các trường ĐH không thể phát triển được.

 Ông Ga khẳng định: “Từ năm 2013, khi áp dụng luật Giáo dục ĐH, Bộ sẽ bắt đầu tiến hành phân tầng các trường ĐH theo 3 loại hình: nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo nghề nghiệp. Khi đó, việc NCKH sẽ tạo một sức bật mới. Sẽ có quy định rõ ràng về việc NCKH như thế nào, các viện nghiên cứu được lập hoạt động ra sao. Kinh phí đầu tư cho các trường này cũng sẽ được tăng lên đáng kể. Dĩ nhiên với mức đầu tư lớn, số lượng các trường nghiên cứu sẽ không có nhiều. Trong khi đó, NCKH tại các trường theo hướng ứng dụng hay đào tạo nghề nghiệp cũng sẽ rõ ràng hơn. Chủ yếu là theo hướng hợp tác để chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp là chính”. 

Chính sách đãi ngộ và chế tài cụ thể

Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 5: Thay đổi tư duy tận gốc - ảnh 3

Cứ để tình trạng như hiện nay thì mãi mãi nghiên cứu khoa học trong các trường ĐH không thể phát triển được

Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 5: Thay đổi tư duy tận gốc - ảnh 4

GS-TSKH Bùi Văn Ga

Hiện tại một số trường ĐH có chính sách khen thưởng những giảng viên có bài báo đăng trên tạp chí quốc tế. Trường ĐH Quốc tế quy định giảng viên phải dành 45% thời gian cho giảng dạy, 35% cho NCKH và 20% cho các công tác khác. Số bài báo quốc tế được quy định như sau: giáo sư phải có 2 bài, phó giáo sư và tiến sĩ 1 bài. Ngoài mức trên, có thêm sẽ được thưởng 1.500 USD/bài quốc tế và 750 USD/bài trong nước. Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cũng đưa ra mức thưởng 10 triệu đồng/bài báo quốc tế được đăng và nằm trong danh sách của ISI. Bắt đầu từ năm 2012, Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM cũng nâng mức thưởng từ 5 triệu đồng/bài báo (mức cũ) lên khoảng 20 triệu đồng/bài. Trường này cũng đưa ra biện pháp chế tài nếu giảng viên không đạt được mức yêu cầu cụ thể về NCKH sẽ không trả tiền giảng cho số giờ giảng được quy đổi từ số tiết dành cho NCKH tối thiểu.

  PGS-TS Chu Quốc Thắng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế TP.HCM, có ý kiến: “Để có một bài được đăng trên tạp chí quốc tế uy tín, giảng viên phải đầu tư thời gian ít nhất từ 1 đến 2 năm. Do vậy, giảng viên cần có môi trường làm việc tốt nhất. Môi trường đó có thể chỉ là một khoảng không gian riêng tư với bộ máy tính nối mạng, có khi là cả một cơ chế mở”.

Thành lập quỹ khoa học quốc gia với cơ chế chủ động

Giáo sư Martin Hayden (người Úc), lãnh đạo nhóm tư vấn quốc tế cho Bộ GD-ĐT Việt Nam, cho rằng cơ chế quan liêu trong việc phân bổ kinh phí nghiên cứu cần được bãi bỏ và thay bằng những phương pháp cạnh tranh. Theo đó, các quỹ tài trợ nghiên cứu nên mở rộng cho các trường ĐH và các viện nghiên cứu trên cơ sở cạnh tranh, dùng một quy trình minh bạch và dựa vào bình duyệt của các chuyên gia độc lập, những người sẽ đánh giá các hồ sơ xin tài trợ theo tiêu chuẩn quốc tế. Để làm điều này, phần lớn ngân sách nghiên cứu nên được thông qua Quỹ NAFOSTED (Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia) hoặc Quỹ sáng kiến công nghệ quốc gia.

Vật vờ nghiên cứu khoa học

Một số chuyên gia nhận xét Quỹ NAFOSTED tuy có nhiều tiến bộ và sát dần đến chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn “bán chủ động”, chưa thoát khỏi sự quản lý nghiêm ngặt của Bộ Tài chính. Với cơ chế này, cứ đến thời điểm gần hết kinh phí cấp cho các đề tài, NAFOSTED lại phải chờ đợi sự thẩm định của Bộ Tài chính. Trong thời gian đó, các đề tài khoa học sẽ chờ nguồn kinh phí một cách bị động, và điều này ít nhiều sẽ gây tác động tiêu cực tới chất lượng nghiên cứu.

Các chuyên gia cho rằng cơ chế phân công, phân phối bất hợp lý trong NCKH hiện nay dễ dẫn đến hiện tượng “cha chung không ai khóc”. Vì thế cần thiết phải có một cơ quan quyền lực điều phối chung các nguồn quỹ khoa học quốc gia.

Chẳng hạn ở Mỹ có Quỹ khoa học quốc gia Mỹ (NSF), một cơ quan liên bang độc lập, có một cơ chế tài chính hoàn toàn chủ động với một nguồn vốn được tổng thống phê duyệt, quốc hội thông qua cho mỗi năm. Ở Singapore, Hội đồng Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia (NRF) do Hội đồng Nghiên cứu, đổi mới và doanh nghiệp quản lý, chủ tịch là thủ tướng. Tổ chức này điều phối các hoạt động nghiên cứu và phát triển dưới sự chỉ đạo và đề xướng của chính phủ tới cơ quan công lập và các tổ chức, học viện hoặc các cá nhân, tạo điều kiện hợp tác, giao lưu, trao đổi khoa học giữa các bên. Riêng ở Úc, mỗi năm, nhà nước chi ra khoảng 5 - 6 tỉ đô la Úc ( khoảng 5% GDP) cho các dự án NCKH và công nghệ. Kinh phí này phân phối đến các nhóm nghiên cứu ĐH hàng đầu và các viện nghiên cứu trên toàn nước Úc. NHMRC (Hội đồng Y tế và y khoa quốc gia) và ARC (Hội đồng Nghiên cứu khoa học quốc gia) chịu trách nhiệm quản lý dự án, phân phối ngân sách nghiên cứu.

“Quy định mức chi dễ khiến người làm khoa học nản. Nó lạc hậu từ 10 năm nay nhưng vẫn chưa được thay đổi. Chẳng hạn, một thành viên hội đồng thẩm định (toàn giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ) đánh giá nghiệm thu một công trình dày mấy trăm trang chỉ được trả thù lao 100.000 đồng”.

Tiến sĩ HỒ VIỆT TIẾN
(Trưởng phòng Quản lý khoa học - Hợp tác quốc tế Trường ĐH Kinh tế TP.HCM)

“Việc phải giải quyết các thủ tục hành chính phức tạp để được chi tiền khiến người làm khoa học cảm thấy chán nản. Một đề tài cấp tỉnh được duyệt chi khoảng 300 triệu đồng, nhưng hóa đơn chứng từ lắt nhắt 100.000 - 200.000 đồng cũng không thể thiếu được. Ở nước ngoài, người làm khoa học được tin tưởng cấp cho một cục tiền mà không phải chịu quản lý bởi những thủ tục tài chính phức tạp”.

Tiến sĩ LM QUANG VINH
(Phó phòng Khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM)

Mỹ Quyên (ghi)

4 nguyên nhân dẫn đến yếu kém

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của KH-CN Việt Nam. Trước hết là sự yếu kém của công tác quản lý. Luật pháp hiện nay là, Chính phủ ban hành quy hoạch, các bộ và UBND cấp tỉnh triển khai quy hoạch của Chính phủ. Khi xây dựng quy hoạch, các cấp phải lập ra hội đồng tư vấn để tham vấn. Đây là dạng quy hoạch dội từ trên xuống. Càng ở trên cao thì càng ít gần thực tế, nhu cầu của cuộc sống đời thường.

Thứ hai, hành chính hóa quản lý bằng cơ chế xin - cho: Các tổ chức khoa học, các nhà khoa học có thể đề xuất những đề tài. Cơ chế xét duyệt và cấp kinh phí xem ra rất chặt chẽ, rất công bằng, nhưng vẫn không thoát ra khỏi cơ chế xin - cho.

Thứ ba, không có chế tài trong việc ứng dụng đề tài khi cấp kinh phí nghiên cứu dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu bỏ xó dù kinh phí được cấp rất lớn.

Thứ tư, dù luật pháp quy định chặt chẽ tính minh bạch, nhưng thực tế vẫn chưa minh bạch.

 Tiến sĩ NGUYỄN BÁCH PHÚC
(Chủ tịch Hội Tư vấn khoa học và công nghệ - HASCON)

 Đ.Nguyên (ghi)

Đăng Nguyên - Hà Ánh

Bình luận

Gửi bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
  • Tối thiểu 10 chữ
  • Tiếng Việt có dấu
  • Không chứa liên kết

Có thể bạn quan tâm

VIDEO ĐANG XEM NHIỀU

Đọc thêm