Góc khuất Hà Thành

10/07/2006 11:57 GMT+7

Thấy làm ruộng thu nhập thấp, chị lên thành phố kiếm việc và đã không giữ nổi mình trước những cám dỗ của đời sống thị thành. Hơn chục năm hành nghề nơi “góc tối”, nay chị đã “hết đát” và chả mấy khi “gặp khách”. Không nhà cửa, không chồng, chị Kim gom hết số vốn kiếm được thời con gái để tậu một chiếc thuyền ở Bãi Giữa làm nơi trú tạm.

Chúng tôi đến xóm trọ của dân ngụ cư tại Cầu Mới, Ngã Tư Sở và ghé vào nhà chị Nguyễn Thị Lụa (quê Quảng Xương, Thanh Hóa). Để vào được ngôi nhà này, chúng tôi phải bước qua lối đi nhỏ hẹp, tối và ẩm chỉ vừa đủ một người lách đi. “Nhà” của chị là một phần của hai dãy giường tầng cũ kỹ, được che chắn, quây tạm bợ bằng gỗ dán và cót ép đã xỉn màu.

Mái nhà lợp bằng phibrô ximăng đã mọc rêu, nhiều mảng được đắp vá bởi các mảnh giấy dầu. Hai dãy giường nằm kề sát nhau, mỗi dãy có khoảng 6-8 hộ, mỗi hộ là một giường với diện tích chỉ gần 4m2. Cả khu nhà này có 3 dãy giường, còn lại một số hộ riêng biệt không phải “phân lô” theo kiểu giường tầng như thế.

Hàng ngày chị Lụa cùng thằng Đạt (8 tuổi) kéo nhau đi xin ăn ở ngoài phố. Thằng Cương (13 tuổi) sức yếu (do bị bệnh hen suyễn kinh niên), chỉ quanh quẩn trong khu nhà, thỉnh thoảng mò xuống sông Tô Lịch... vầy nước.

Đạt, Cương là hai đứa con trai chị Lụa. Buổi trưa, chị Lụa và thằng Đạt gặp đâu ăn đấy. Còn thằng Cương được mẹ cho 1.000đ mua bánh mì hoặc gói mì tôm. Đến tối khoảng 21-22h thì chị Lụa về. Lúc đó ba mẹ con mới mua cái gì “tươm tươm” để ăn. Nhiều khi cả ngày chỉ xin được 1.000-2.000đ, cả ba mẹ con đành ăn... bỏng ngô trừ bữa.

Rời nhà chị Lụa, chúng tôi tìm đến một khu trọ tồi tàn không kém. Nguyễn Văn Hải - cũng quê Quảng Xương - đang sống với bà nội. Ngôi nhà rộng độ 20m2 ngoài bốn chiếc giường ra còn lại thôi thì nồi niêu xoong chảo vứt lỏng chỏng. Những bao tải lon bia, phế liệu... chồng chất tỏa ra mùi xú uế đến kinh người.

Phía bên trên (trông như giường tầng của sinh viên) là khu xép dành cho bọn trẻ con. Nói là khu xép cho dễ hình dung, chứ nó chỉ là những tấm ván, xà gồ... được kê lên mấy thanh sắt đóng vào tường, trên đó có mấy tấm chăn rách, đen sì, hôi rình. Hơn chục ông, bà già được ưu tiên ngủ tầng dưới, còn bọn trẻ con phải lên xép nằm.

Trước kia thằng Hải thường đi hát xẩm kiếm tiền với chú. Sau khi người chú bị bệnh lao chết thì nó với người bà gần 80 tuổi đầu ngày ngày lại lang thang khắp các hang cùng ngõ hẻm hành nghề “Cái bang”. Lắm khi không có tiền để nộp tiền nhà, cả hai bà cháu bị “mời” đi trú tạm trên hè phố, mặc cho nắng nôi, sương gió.

Chỗ thằng Trà và hai chị gái ở là dãy nhà cũ nát gần đấy. Nó được dựng bằng những tấm cót ép thủng, mái che bằng giấy dầu. Dãy nhà này nằm ở vị trí thấp đến nỗi khi mùa mưa đến, cả dãy nhà đều chìm trong nước và rác. Sau mỗi trận mưa, phải mất đến mấy ngày thì nước mới ngấm hết vì... không có đường thoát. Thằng Trà dẫn chúng tôi vào chỗ nó nằm. Vì không có tiền, nó phải ngủ ở góc trống duy nhất dưới chân cầu thang sát nhà vệ sinh. Nằm ở đó mỗi khi có người đi vệ sinh thật là bất tiện.

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết từ ngày đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, vì nhiều lý do khác nhau, một số người dân ở nông thôn như Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Thanh Hóa... đã ra ngoài Hà Nội kiếm sống. Vì không có tiền và không nghề nghiệp, họ phải thuê trọ ở những căn nhà chật hẹp và làm đủ mọi nghề từ bán rau, rửa bát đến đi ăn xin. Cuộc sống của họ là một thực tế đáng buồn gây phức tạp cho không chỉ đối với chính quyền địa phương sở tại mà còn gây băn khoăn đối với nhiều người dân Hà Nội vốn giàu tính nhân văn.

Xóm thuyền lênh đênh bên Bãi Giữa

Gia đình anh Nguyễn Văn Học - quê Hưng Yên - phiêu dạt đến Bãi sông Hồng từ sau trận bão năm 1998. Anh vốn bị viêm phổi kinh niên, không thể làm được việc nặng. Ngày ngày anh lên bờ đánh giày, vợ anh gánh hoa quả thuê kiếm cân gạo, mớ rau nuôi lũ trẻ dưới thuyền.

Nhà có ba đứa trẻ nhỏ, song con thuyền của anh phải neo vị trí cách xa những con thuyền khác (vì người ta sợ anh lây bệnh sang họ). Muốn ra được thuyền của anh phải đi qua 2 chiếc “cầu khỉ” bắc bằng những tấm ván rộng độ 20cm. Một chiếc cầu bắc từ thuyền của anh sang chiếc cầu “trung gian” của thuyền bên cạnh. Hai chiếc cầu tạo thành một góc tù mà xung quanh là mênh mông sông nước.

Chúng tôi đến đúng lúc anh Học nghỉ ở nhà vì anh đang bị cơn hen hành hạ. Cũng giống như những chiếc thuyền khác, khoang thuyền của anh Học được ngăn làm ba phần. Phần đầu thuyền trải một manh chiếu rách với mấy cái gối đen sì - tôi đoán là “phòng ngủ” của anh chị. Phần giữa có đôi ba cái ghế cũ với mấy cái cốc cáu bẩn. Còn phần cuối thuyền thôi thì nồi niêu xoong chảo, bát đũa... vứt la liệt.

Thấy nhà cửa vắng vẻ, tôi hỏi: “Bọn trẻ nhà anh đâu cả rồi?”. “Chúng nó đang chơi trên bãi cát ấy”. Rồi trong cơn ho sù sụ, anh Học vừa kể với tôi, vừa ứa nước mắt. Tháng trước do làm ăn, vợ chồng anh kéo 2 đứa trẻ đi, ở nhà chỉ còn con bé nhất (tên Thu). Chắc muốn sang thuyền khác chơi với chúng bạn, Thu tự động trèo sang và ngã xuống sông chết đuối. Cả xóm đổ đi tìm mà không thấy.

Mấy hôm sau thì xác nó mới nổi lên. Anh Học mang ảnh bé Thu cho chúng tôi xem. Ảnh bé thật dễ thương với đôi mắt tròn đen láy. Chúng tôi nhìn tấm ảnh mà lặng đi hồi lâu. Anh bạn đi cùng tôi lảng sang chuyện khác, hy vọng để anh Học nguôi dần nỗi nhớ con.

Người dân Bãi Giữa còn truyền nhau câu chuyện của chị Kim. Chị thật đáng giận mà cũng thật đáng thương. Trước kia, chị Kim từng là “hoa khôi” của thôn M, tỉnh H. Thấy làm ruộng thu nhập thấp, chị đành lên thành phố kiếm việc. Thật xót xa khi chị đã không giữ nổi mình trước những cám dỗ của đời sống thị thành.

Hơn chục năm hành nghề nơi “góc tối”, nay chị đã “hết đát”, chả mấy khi “gặp khách”. Không nhà cửa, không chồng, chị Kim gom hết số vốn kiếm được thời con gái để tậu một chiếc thuyền ở Bãi Giữa làm nơi trú tạm. Thuyền của chị Kim cũng chẳng khá khẩm hơn những con thuyền khác là bao. Chỉ có cái chiếu, cái chăn và mấy bộ quần áo cũ. “Hoành tráng” nhất là bộ ảnh người mẫu treo la liệt khắp nơi.

Trước thực trạng khó khăn của một bộ phận người không nghề nghiệp nhập cư tự do về Hà Nội kiếm ăn tạm bợ, chúng tôi đã có cuộc tiếp xúc với Công an phường Nhân Chính - quận Thanh Xuân và phường Phúc Xá - quận Ba Đình. Các anh cho biết tuy rất thông cảm với những người này, nhưng công bằng mà nói họ khổ cũng một phần do đã bỏ ruộng vườn ra thành phố.

Đấy là chưa kể đến khi họ đưa nhau tới đây sẽ khiến công tác quản lý, bảo vệ trật tự an ninh trên địa bàn trở nên phức tạp hơn. Nhiều ổ nhóm trộm cắp, cờ bạc, mại dâm... cũng thường xuất phát từ một vài xóm trọ. Ngoài việc giáo dục, động viên người nhập cư làm ăn tự do, tạm bợ trở về quê để ổn định cuộc sống, hiện tại chưa có một biện pháp nào khả dĩ hơn. Còn chuyện họ ở chật chội, khổ sở thì đành phải chấp nhận.

Trong quá trình đi tìm hiểu về cuộc sống của dân nông thôn không nghề nghiệp lên Hà Nội kiếm sống, chúng tôi tình cờ gặp một nhóm bạn trẻ thuộc Câu lạc bộ “Tình nguyện trẻ” của thành phố (là những học sinh - sinh viên của các trường đại học trên địa bàn thành phố như Cúc, Linh, Nga, Mai...) đang làm công việc mà có ý nghĩa và tác dụng thiết thực là tìm hiểu hoàn cảnh sống của trẻ lang thang, mở lớp dạy học miễn phí cho các cháu..

Theo Minh Tiến/báo Công An Nhân Dân

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.