Thế nhưng, theo nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy, trong tiểu luận Phố phường Hà Nội xưa, thì Hà Nội thời Nguyễn có tới 16 cửa ô. Phía bắc có các ô Yên Hoa, tức là Yên Phụ, hay Yên Thụ, và ô Yên Tĩnh ở phố cửa Bắc. Phía đông có các ô Thạch Khối ở Hàng Đậu, Phúc Lâm ở đầu Cầu, Đông Hà ở Hàng Buồm, Trừng Thanh ở Hàng Mắm; Mỹ Lộc, Đông Yên rồi đến Tây Luông ở đầu phố Tràng Tiền. Phía Nam có các ô Nhân Hòa, ô Thịnh Lãng, ô Yên Ninh, ô Kim Hoa, ô Thịnh Quang. Phía tây có các ô Thanh Bảo, tức Vạn Bảo, Vạn Phúc, ô Thụy Chương. Bản đồ Hà Nội năm 1831 ghi đủ các ô trên, nhưng không thấy ghi tên ô Quan Chưởng. Ông Thúy suy luận cái tên ô Quan Chưởng có thể là tên của một ông quan phủ sự coi việc xây, hay cũng có thể là cửa ô này là lối vào con đường chính thức cho các quan trưởng từ bờ bắc sông Hồng vào Đông Kinh.
Các cửa ô không đóng ở những nơi nhất định mà thay đổi qua các thời kỳ. Trên bản đồ Hà Nội năm 1866, ô Yên Hoa đã lấy tên Yên Phụ ngày nay. Ô Yên Tĩnh đổi thành Yên Định, rồi sau gọi là Yên Ninh, hay ô Cầu Dền như bây giờ. Chỗ ở Thạch Khối, bây giờ còn đình Thạch Khối, đổi tên là Nghĩa Lập. Phúc Lâm lấy tên là Tiền Trung. Tây Luông đổi ra Trường Long. Không thấy có ô Nhân Hòa nữa. Yên Ninh đổi thành Thịnh Yên, Kim Liên thay cho Kim Hoa. Thịnh Quang đổi thành Thịnh Hào, vẫn quen gọi là ô Chợ Dừa.
Về cấu trúc và công năng, cửa ô là lối ra vào thành, thường có vọng gác, có chốt chặn để thu thuế, bảo vệ cuộc sống trong thành. Hãy mường tượng quang cảnh ô Chợ Dừa như sau - theo hình dung của nhà Hà Nội học Hoàng Đạo Thúy:
Có những hôm cửa ô Chợ Dừa tấp nập lạ thường. Đó là những ngày triều đình ra quân. Quan tướng nhận chiếu chỉ, lạy từ vua trước sân rồng rồi lên xe. Vua xuống bệ, đặt tay vào lưng xe, đẩy làm phép một cái, gọi là “đẩy xe” để tỏ lòng tin cho quan quân yên tâm đi đánh giặc. Cờ mở, trống dong, các bạn đồng liêu đi tiễn. Tướng ra cửa ô, kéo lá cờ to có chữ họ của mình lên, cửa ô đóng lại. Sau đó, tướng lại “vi hành” về nhà để thu xếp, hôm nào xong xuôi mới trẩy thật. Những hôm có quan đóng như vậy, dân quanh cửa ô đi lại rầm rập, hàng quán bán đắt như tôm tươi. Lại có những hôm quân hồi vô lệnh, giáo mác lỏng chỏng, quân lính mất tăm. Nhân dân rầm rập chen ra khỏi cửa ô. Trong đám đông ấy, có những người khoác manh áo vải, lê chân không nổi. Các quan chuồn. Một lão không kịp mặc áo dài, giơ cả bụng phệ ra, bà con chỉ: “Quan phụ mẫu”, quan huyện Thọ đấy... Ấy là cái hôm quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất...
Ngày nay, Hà Nội chỉ còn sót lại cửa ô Quan Chưởng đang bị xuống cấp, và vừa mới được lên kế hoạch trùng tu!
Ngọc Lan
Bình luận (0)