1. Quảng Bình nằm giữa dải uốn lượn hình chữ S theo chiều dài của đất nước - mảnh đất của những nhân tài kiệt xuất, những trận địa anh hùng và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Nhiều người cũng biết đến Quảng Bình với gió Lào, cát trắng.
Nơi hội quân của đoàn là cửa biển Nhật Lệ, P.Hải Thành, TP Đồng Hới. Chuông báo thức đổ, vùng bật dậy khỏi chăn ấm, đánh răng rửa mặt qua loa, tất cả thành viên đã có mặt đầy đủ. Sóng biển vỗ rì rào dưới chân đường Trương Pháp, chúng tôi xuất phát khi trời đất đang chìm trong bóng đêm. Chạy xe chừng 15 phút thì đến đường Hồ Chí Minh nhánh đông, từ đó theo hướng bắc, đến ngã ba trung tâm Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thì rẽ trái lên hướng tây, chạy tiếp đến nơi thấy cột báo Km0 đường 20 - Quyết Thắng. Từ đây, hành trình trên con đường được mệnh danh là "xấu nhất VN" bắt đầu.
|
|
Ngược dòng thời gian, vào thời điểm chiến tranh giải phóng đất nước ngày càng khốc liệt, do yêu cầu chi viện chiến trường ngày càng lớn, ta đã mở thêm cửa khẩu thứ hai vượt đỉnh Trường Sơn để vừa phá thế độc đạo nhằm phân tán mật độ đánh phá của địch, vừa rút ngắn được cường độ vận chuyển từ phía bắc xuống đường 9. Đường 20 xuất phát từ đó, bắt đầu ở thôn Phong Nha (H.Bố Trạch) lên Cà Roòng, chọc thủng dãy đá vôi của Trường Sơn, nối liền với đường 128 ở ngã ba Lùm Phùm (Lào), chiều dài là 123 km. Tuyến đường được khảo sát và thi công trong thời điểm chiến tranh ác liệt, bị địch đánh phá suốt ngày đêm nên có thể nói mặt đường trộn lẫn máu và mồ hôi của các chiến sĩ Trường Sơn. Với quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, địch chưa tan thì máu xương cũng không tiếc, chỉ sau hơn 4 tháng, kể từ ngày 20.12.1965 tuyến đường đã hoàn thành. Hai trung đoàn công binh số 41, số 10 và tổng đội TNXP số 25 gồm của các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và Hà Nam Ninh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giao thông - vận tải và Bộ tư lệnh 559 đã đảm nhận nhiệm vụ lịch sử này. Đường 20 có đến 8 trọng điểm, thường được gọi "tọa độ lửa". Trong đó ác liệt nhất là tập đoàn trọng điểm "A.T.P", tức là cua chữ A, ngầm Te Lê và đèo Phu - La - Nhích. Bình quân mỗi chiến sĩ trên tuyến đường này chịu đựng 1.000 quả bom các loại.
2. Thực ra, bắt đầu từ Km16 - nơi có di tích lịch sử hang Tám Cô - đường mới bắt đầu xấu. Chỉ có loại xe u-oát mới "trị" được con đường này, "nhưng quan trọng là ai điều khiển chiếc xe" - anh tài xế tên Hải nói đùa mà là thật. Mưa rừng khiến cho bề mặt đất, đá càng thêm trơn trượt; một chuyến đi không chờ đón sự êm ả với chúng tôi phía trước. Chiếc xe liên tục lắc lư bên trái bên phải, dồi lên trên rồi tụt xuống dưới, khi lại nhảy như cóc, dù gồng mình né tránh hết cỡ nhưng một số thành viên trong đoàn cũng không khỏi bị va đầu vào thành và trần xe. Khi đi trời rét tê tái, "bị dần" chừng 10 cây số thì trong người nóng bừng bừng, có người phải cởi bớt áo ấm. Nói như anh Hải, chỉ có những tài xế quen đường mới có thể lướt "êm" được trên dạng đường này, chỗ cần nhanh mà đi chậm hay ngược lại đều phản tác dụng, gây trở ngại cho người cầm lái. Vòng vô-lăng liên tục xoay tròn, tôi nhìn qua đồng hồ chỉ tốc độ thì thấy kim nằm ở gần vạch số 0, thỉnh thoảng nhích lên một tí liền hỏi: "Công-tơ-mét bị đứt rồi hả anh?", "Đâu, tốc độ chừng đó chứ mấy, chạy thế này chỉ hơn người đi bộ chút thôi" - anh Hải trả lời. Xoay vô-lăng, giật số, gài cầu, anh Hải thực hiện không phút nghỉ ngơi.
|
|
Điều chúng tôi thích thú nhất trên dọc đường đi là chứng kiến nhiều loài thú đi tìm cái ăn như gà lôi đỏ, bò rừng, khỉ và một số đoạn có nền đường rất tốt, cánh tài xế cho biết đó là những đoạn đường làm từ thời chiến tranh còn sót lại. Đường 20 sau này bị hư hỏng một phần do xe tải chở vật liệu xây dựng, chở gỗ cày nát; nhiều chỗ trơ đá lởm chởm, chỗ thành từng vũng sâu, mỗi khi có mưa thì nước đọng lại như cái ao.
3. Chạy mãi rồi chúng tôi cũng đến được chốt chặn Trạm kiểm lâm Km39. Đây chính là điểm rẽ vào trung tâm xã Tân Trạch - nơi có đồng bào dân tộc A Rem sinh sống. A Rem có nghĩa là "vòm đá, hang đá". Ở đây có vô vàn những vòm đá, hang đá; năm 1956, lần đầu tiên tộc người này được phát hiện ra khi chỉ có 18 người với cuộc sống ở hang, ăn lông ở lỗ, lấy lá cây làm quần áo và trần hang làm mái nhà. Sự hoang dã đã làm không ít người bàng hoàng. Bộ tộc A Rem được di dời ra khỏi hang, nhưng sau đó vì chiến tranh và cách trở, họ gần như bị quên lãng. Trong khi, bản thân người A Rem cũng muốn trở lại cuộc sống ở nơi rừng sâu nước thẳm để dễ bề kiếm ăn. Năm 1992, lần nữa cán bộ và các chiến sĩ biên phòng lên rừng thuyết phục, đưa người A Rem về sinh sống tập trung. Năm 2004, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM đã quyên góp xây tặng đồng bào A Rem 42 căn nhà kiên cố. Tỉnh Quảng Bình cũng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường cán bộ, giáo viên miền xuôi lên giúp đồng bào hòa nhập với cộng đồng. Bộ mặt bản làng có sự thay đổi rõ rệt thế nhưng người A Rem chưa bớt khó khăn vì điều kiện tự nhiên ở đấy khắc nghiệt cộng với tập tính lạc hậu của bà con. Bí thư Đảng ủy xã Nguyễn Chí Sỹ cho hay: "Bây giờ, bà con vẫn vào hang đá "thường trú" nhưng thời gian ngắn hơn để kiếm cái ăn, hay trông coi nương rẫy".
|
|
4. Rời A Rem, còn 16 cây số đầy thử thách với chúng tôi phía trước trên hành trình đến cực tây tỉnh Quảng Bình. Cánh cửa chiếc u-oát đánh "rầm", khép lại thời gian nghỉ ngơi, âm thanh ràn rạt từ cần gạt nước cũ lại vang lên quen thuộc. Chạy hơn 30 phút, xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên phần đất xã Thượng Trạch - nơi khó khăn không kém Tân Trạch. Nếu rẽ trái theo hướng vào cửa khẩu Cà Roòng thì sẽ gặp biên giới Việt - Lào tại Km 61, nhưng chúng tôi chọn cách đi thẳng. Ở đó có tộc người Ma Coong sinh sống. Đoạn còn lại, dự án cải tạo đường đang triển khai, nước mưa xuống khiến cho mặt đường trơn trượt. Chiếc xe cứ xoay ngang khiến anh Hải phải ghì vô-lăng lại như muốn ghì cả chiếc xe khỏi trượt ngược. Vật lộn hơn 1 tiếng thì bản làng Ma Coong dần hiện ra với mái tôn đỏ thấp thoáng.
A Rem, Ma Coong, những cái tên chỉ đọc lên hay nghe thấy cũng đã cảm nhận được sự xa xôi, hoang dại giữa đại ngàn! Ma Coong trập trùng vài nóc nhà đang co cụm lại trong tiết trời xấu. Cả 2 bản làng trung tâm vắng hoe vắng hoắt, thỉnh thoảng mới có một vài người đi ra, nhà nào cũng đóng cửa im ỉm. Trời mưa lùn phùn, đi từ đầu đến cuối bản Cà Roòng 1, tôi mới gặp chàng trai trẻ vừa tốt nghiệp lớp 12 trường dân tộc nội trú tỉnh tên là Đinh Mị, cậu đang lúi húi chẻ tre rào lại mảnh đất để trồng rau. Hỏi sao mọi người đi đâu hết mà bản vắng vậy? Mị trả lời: "Bà con ngồi sưởi lửa trong nhà hết. Ai có việc thì đi làm, đi rẫy kiếm cái ăn rồi". Để chống rét trong khi vẫn làm được việc, Mị đốt củi, gỗ bên cạnh.
Tôi đánh liều bước lên cầu thang cái nhà sàn giữa bản rồi mở cánh cửa ra và tươi cười: "Con chào bố mẹ, trời xấu quá". Đáp lại, tôi cũng nhận được những nụ cười tươi tắn. Đó là nhà bố Đinh Xuân Kim, bố đã 69 tuổi nhưng nhìn còn trẻ lắm. Bố có 7 người con, hiện sống với người vợ thứ 2, vợ đầu đã chết. Bố nói: "Ui, xấu lắm, lâu rồi trời mới xấu như ri. Trời xấu nên bà con không đi mần, đi kiếm cái ăn được, do áo quần không có, phải ở nhà ngồi hơ lửa thôi".
Những đứa trẻ Ma Coong da đen nhẻm, lò thò nước mũi, tóc xoắn lại, không quần dài và mặc cái áo phong phanh chạy ngơ ngác trên nền đất bùn trông thật tội nghiệp. Cô giáo Trần Thị Kim Triều cứ xuýt xoa: "Anh thấy đấy, bà con ở đây khổ cực quá, không có điều kiện chăm chút con cái. Trời thì thế này, các em phải chịu đựng thế chúng tôi cũng không đành, nhưng lực bất tòng tâm".
Mùa mưa sớm tối trời, chúng tôi phải chào tạm biệt về xuôi cho kịp. Dù lòng rất muốn ở lại bởi những nụ cười thân thiện, những cái vẫy tay như níu kéo của bà con Ma Coong. Một ngày với 2 sự đối lập: đô hội bên biển và nơi khó khăn, lạc hậu ở rừng thiêng nước độc. Người A Rem, Ma Coong đang đi lên từng bước nhưng vẫn còn rất chậm!
Bài & ảnh: Trương Quang Nam



Bình luận (0)