“Hãy xem tôi như người đi vắng vô hạn...”

24/04/2006 23:55 GMT+7

Nằm cạnh con đường thiên lý Bắc Nam, làng Kim Nặc, thuộc tổng Thổ Ngọa xưa, nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, quê hương của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập là một vùng đất nghèo, cằn cỗi, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng. Cũng như bao người dân nghèo khác nơi đây, gia đình Hà Huy Tập chỉ có tài sản duy nhất là một ngôi nhà lá 3 gian và 2 mẫu ruộng.

Thế nhưng, sớm được cha là một nhà nho nghèo chỉ bảo, ngay từ nhỏ, Hà Huy Tập đã tỏ ra có tư chất thông minh, sắc sảo. Cậu bé Tập thời niên thiếu đã phải vất vả cực nhọc cùng gia đình kiếm sống, tự học hành rèn luyện, vươn lên vượt qua khó khăn của vùng quê nghèo, trở thành một thầy giáo yêu nước ở Nha Trang, rồi ở Trường Cao Xuân Dục, TP Vinh, Nghệ An. Thấu hiểu nỗi lầm than cơ cực của những người dân xứ Nghệ, Hà Huy Tập đã sớm hình thành lý tưởng vì dân, vì nước.

Bắt đầu của chặng đường 16 năm hoạt động cách mạng, Hà Huy Tập đã tham gia nhiều công việc ở các môi trường khác nhau như: trường học, đồn điền, sở hỏa xa, tham gia dịch sách, viết báo, tổ chức các cuộc đình công, lập ra các lớp học xóa mù chữ cho công nhân... Hà Huy Tập đã sớm tiếp xúc với sách báo tiến bộ, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc và Quốc tế cộng sản, tham gia phong trào đấu tranh cách mạng như: gia nhập Hội Phục Việt (1925), tham gia các cuộc vận động xóa bản án cho Phan Bội Châu, tham gia lễ truy điệu Phan Chu Trinh, rồi khởi xướng phong trào học sinh tại Vinh. Hà Huy Tập đã bôn ba khắp Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, từng bị trục xuất sang Bỉ, bị mật thám Pháp theo dõi gắt gao, bị tòa án thực dân Pháp kết án tù nhiều lần... Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, rồi được học lý luận ở trường Đại học Phương Đông, Hà Huy Tập đã từ một thầy giáo yêu nước ở trường Cao Xuân Dục trở thành một người cộng sản có lập trường cách mạng vững vàng, ý thức hệ lý luận sắc bén. Dù ở cương vị nào, Hà Huy Tập luôn tỏ rõ khát khao vì độc lập tự do và cơm áo của nhân dân. Nhiều tư liệu báo chí còn lại có nhiều bài viết của Hà Huy Tập đăng trên báo Phụ nữ, Tân Văn, Đông Pháp... thể hiện bản lĩnh của một người cộng sản.

Trong thời điểm Đảng khủng hoảng lãnh đạo và các tổ chức Đảng bị phá vỡ sau cao trào cách mạng 1930-1931 và phải rút vào hoạt động bí mật, Hà Huy Tập đã chứng minh vai trò lãnh đạo xuất sắc. Là người chuẩn bị và chủ trì tổ chức Đại hội lần thứ 1 của Đảng, công lao to lớn của Tổng bí thư Hà Huy Tập là khôi phục lại các tổ chức Đảng bị phá vỡ sau cao trào 1930-1931. Tổng bí thư Hà Huy Tập tỏ rõ năng lực, tư duy lý luận, quan tâm đến các vấn đề lý luận tổ chức và xây dựng Đảng khi là một trong những người đầu tiên tổng kết kinh nghiệm lịch sử Đảng Cộng sản Đông Dương. Toàn bộ trước tác gồm 14 bài viết và văn kiện, 20 tác phẩm sách, báo chứng tỏ trí tuệ sắc sảo, uyên thâm của Tổng bí thư Hà Huy Tập, trong đó nổi bật là nhiều tài liệu và công trình quan trọng của lịch sử Đảng ta đầu thời kỳ dựng Đảng như lịch sử của Tân Việt cách mạng Đảng (1929), hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931) và Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương (1933). Tổng bí thư Hà Huy Tập là người giải quyết toàn diện và sâu sắc lý luận về chiến lược và sách lược của cả thời kỳ vận động dân chủ - một trong những nhân tố tạo nên thành công của cao trào dân tộc- dân chủ 1936-1939.

Cùng với các nhà cách mạng khác, ngày 25/3/1941, Hà Huy Tập bị thực dân Pháp kết án tử hình cùng với Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai. Trước tòa, anh đã khẳng khái giữ trọn khí tiết người cộng sản: "Tôi chẳng còn gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động". Khu di tích cố Tổng bí thư Hà Huy Tập ở Hà Tĩnh hiện vẫn còn lưu giữ bút tích bức thư Hà Huy Tập gửi cho anh rể Nguyễn Cương báo tin tòa án binh Sài Gòn tuyên án tử hình, anh viết: "Nếu tôi phải bị chết..., gia đình và bạn hữu chớ xem tôi như là người chết, mà phải buồn, trái lại nên xem tôi như là người còn sống, nhưng đi vắng một thời gian vô hạn... mà thôi... !".

Hạnh Loan

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.