Học vẹt vẫn phổ biến
Để đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức của học sinh (HS) theo chương trình - SGK mới tiểu học và THCS, nhóm nghiên cứu của đề tài đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan. Việc đánh giá được tiến hành ở 5 tỉnh và TP được chọn làm đại diện cho các vùng miền là Hà Nội, Ninh Thuận, Đồng Tháp, Kon Tum, Sơn La. Ở tiểu học, đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức môn Toán, Tiếng Việt của HS lớp 1 và lớp 3 ở 28 trường tiểu học với 1.757 HS. Ở THCS, đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức môn Toán, Vật lý, Ngữ văn, Lịch sử của HS lớp 6 và lớp 8 ở 26 trường THCS với 1.666 HS.
Kết quả cho thấy trong các mức độ nhận thức, mức độ vận dụng luôn có kết quả kém so với mức độ nhận biết và thông hiểu, và càng lên các lớp trên thì sự chênh lệch này càng trở nên rõ ràng. Trong khi điểm trung bình ở các mức độ nhận biết và thông hiểu ở các môn đều vượt xa điểm chuẩn, thì điểm trung bình ở mức độ vận dụng chỉ bằng hoặc dưới điểm chuẩn. Nói một cách nôm na, học sinh học thì nhiều mà chẳng vận dụng được bao nhiêu!
Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này, trong đó phải kể đến sự chưa tương thích giữa yêu cầu vận dụng của chương trình - SGK với khả năng vận dụng của HS.
Đối với bậc THCS, chỉ có chương trình - SGK của các môn Ngữ văn và Lịch sử ở lớp 6 là tương đối phù hợp với khả năng và điều kiện học tập của HS. Chương trình - SGK các môn Ngữ văn và Lịch sử lớp 8, của các môn Vật lý lớp 6, lớp 8 đều khó so với khả năng và điều kiện học tập của HS. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của các chương trình - SGK chưa phù hợp với khả năng học tập của HS; HS có khả năng thực hiện các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình, nhưng không đủ thời gian để thực hiện những yêu cầu này (do quá tải về thời gian học tập). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự giảm dần của kết quả học tập một số môn học từ lớp dưới lên lớp trên; sự tăng dần của mức độ chênh lệch về kết quả học tập một số môn học giữa HS vùng thành thị và các vùng nông thôn, miền núi...
Bên cạnh đó, có sự không phù hợp giữa tốc độ tăng dần mức độ khó của chương trình và SGK với tốc độ tăng trưởng về khả năng học tập của HS từ lớp dưới lên lớp trên ở cấp THCS. Cũng nói một cách nôm na, chương trình càng lên cao càng khó, trong khi học sinh càng lên lớp trên thì trình độ càng giảm sút.
Do thiếu thời gian "tải" chương trình?
Ông Trịnh Quốc Thái - Vụ trưởng Vụ GD Tiểu học, Bộ GD-ĐT đánh giá: "Đề tài nghiên cứu độc lập cấp Nhà nước về chương trình - SGK mới rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.". Ông Thái cho rằng, thực tế đã và đang xảy ra sự mất cân đối về phân phối thời gian môn học, ví dụ môn Tiếng Việt chiếm đến 50% thời lượng chương trình là quá nhiều, trong khi ở nước ngoài, môn học về tiếng mẹ đẻ chỉ chiếm khoảng 30%.
Cũng theo ông Thái, mức độ vận dụng luôn có kết quả kém nhất, càng lên lớp trên sự chênh lệch này càng rõ ràng, cho thấy chương trình vẫn nặng về tính hàn lâm, lý thuyết mà coi nhẹ tính vận dụng, sáng tạo của học sinh. Ông Thái đưa ra căn nguyên sâu xa hơn: chương trình - SGK mới chỉ phù hợp với dạy học 2 buổi/ngày, nhưng thực tế thì cho đến nay cả nước mới chỉ có 30% HS tiểu học được học 2 buổi/ngày, chủ yếu lại tập trung ở vùng thành thị. Chính vì vậy, HS nông thôn, miền núi đã khó khăn về cơ sở vật chất, về khả năng tiếp thu kiến thức lại chỉ được học 1 buổi/ngày nên đã khó lại càng khó hơn. Trong tương lai, cần có một chương trình chuẩn để xây dựng được nhiều bộ SGK, phù hợp với nhiều loại đối tượng khác nhau. Nếu vẫn cứ áp dụng một bộ SGK duy nhất như hiện nay thì không thể nào giải quyết được những bất cập về yếu tố vùng miền nếu không muốn nói là có hại cho trẻ (vì phải ngồi nhầm lớp).
Ông Lê Quán Tần - Vụ trưởng Vụ GD trung học - Bộ GD-ĐT cũng đồng tình với quan điểm này: chỉ nên có một chương trình thống nhất, và nên khắc phục nhược điểm lớn nhất của chúng ta hiện nay là coi SGK như "pháp lệnh". Ở các nước phát triển, đã có SGK thì GV chỉ dạy những phần khó, những phần kiến thức mở rộng. Còn lại HS phải tự tìm hiểu, tìm kiếm tri thức bằng nhiều kênh thông tin khác nhau.
Với những kết quả nghiên cứu mà đề tài trên thu được, ông Nguyễn Hữu Châu - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chương trình GD cũng thẳng thắn cho rằng công cuộc đổi mới chương trình GD phổ thông lần này chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu đào tạo một lớp người trung thực, năng động, sáng tạo... mà phải có sự chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục thực sự sau khi kết thúc Chiến lược phát triển GD từ năm 2001 đến 2010. Giải pháp quan trọng nhất phải thực hiện ngay là tăng cường nghiên cứu khoa học giáo dục, bảo đảm những đổi mới trong GD phải dựa trên những luận chứng khoa học xác đáng.
H.M - T.H
Bình luận (0)