“Việt hóa” lớp học
Ngày đầu tiên vào lớp, mỗi học viên được giáo viên trao cho một danh sách những cái tên người Việt, cách phát âm và ý nghĩa của chúng. Tuyết là snow, Hải là sea, Thắng là victory, Hồng có thể là pink (màu sắc) hay rose (một loài hoa)... Mỗi người chọn cho mình một cái tên ưa thích theo ý nghĩa của nó hoặc có cách phát âm gần giống tên thật của mình bằng tiếng Hoa. Cái tên đó đi theo mỗi học viên trong suốt quá trình học tiếng Việt tại Trung tâm Ngôn ngữ học, khoa Nghệ thuật và Khoa học xã hội của Đại học quốc gia Singapore (NUS). Có hai người cùng thích tên Hải, vậy là một người được gọi Hải “trắng”, người kia là Hải “đen” (dù cậu này cũng không đen cho lắm!). Dần dà Thắng, học năm hai khoa Toán, “quên hẳn” cái tên Trung Quốc Xian Yi của mình; Chek Khoor, người Singapore cũng học Toán, chỉ còn nhớ mình tên Kiên; và không ai nhớ Quang, người Malaysia đang học năm 3 khoa Sinh, có tên thật là Wee Siong.
Không biết các cô dạy thế nào mà các học viên cứ nói “thích ăn đồ Việt Nam lắm!”. Hỏi thích món gì thì các bạn tuôn một tràng từ chả giò, chạo tôm, gỏi gà, phở, bánh chuối, cho đến chè đậu xanh, cà phê Trung Nguyên... Các bạn cũng nhớ rất rõ Sa Pa là vùng núi cao miền Tây Bắc; vịnh Hạ Long ở gần cảng Hải Phòng, cảnh đẹp như tranh; Nha Trang ở miền Trung có nhiều bãi biển đẹp; Đà Lạt có nhiều hoa và có nhiều người đến đó hưởng tuần trăng mật; Vũng Tàu nằm cạnh TP.HCM cũng là một nơi du lịch nổi tiếng... Thoạt nghe, cứ tưởng các bạn đang quảng cáo về Việt Nam vậy.
Học cứ như chơi
|
LAV@NUS có 4 giáo viên. Thầy Minh là người có thâm niên cao nhất, gần 13 năm. Quê thầy ở Trà Vinh, trước dạy tiếng Việt tại khoa Việt Nam học của trường ĐH KHXH& NV TP.HCM. Cô Bích, người Huế là Việt kiều Pháp, về Singapore, cô dạy tiếng Pháp tại trường Temasek và dạy bán thời gian tại LAV@NUS. Cô Quỳnh là người Hà Nội, lấy chồng người Singapore, cũng dạy bán thời gian. Cô Lê, quê Hà Tĩnh, mới sang Singapore được một năm rưỡi. |
Nhờ phòng học nào cũng có máy chiếu, còn internet thì phủ sóng gần như toàn bộ cơ sở chính Kent Ridge, nên lớp tiếng Việt trở nên rất sinh động. Học đến chủ đề nào, giáo viên cứ vào mạng tìm những nội dung và hình ảnh liên quan chiếu lên màn hình cho cả lớp “mục sở thị”. Cô Lê, người trẻ nhất trong số 4 giáo viên của chương trình, thường trò chuyện với học viên qua blog như một người bạn. Cô đưa các bạn ra Liang Court nhấm nháp cà phê Trung Nguyên, đến nhà hàng Việt Express thưởng thức các món Việt. Cô cũng là người mà theo thầy Minh, chủ nhiệm chương trình LAV@NUS, “có công lớn trong việc thu hút học viên” bằng những sáng tạo của mình.
Hôm chúng tôi đến thăm, đúng lúc LAV@NUS tổ chức chương trình giao lưu học viên tất cả các lớp. Sinh viên Việt Nam tại NUS cũng được mời đến dự. Bất kể lạ quen, học viên các lớp chia đều vào mỗi nhóm, chuyện trò bằng tiếng Việt rôm rả. Dẫn chương trình là ba học viên lớp 2 nhưng nói tiếng Việt rất tốt. Xuyên suốt buổi giao lưu là những trò chơi mang tính đồng đội giúp mọi người củng cố kiến thức đã học. Hải “đen” thất bại khi diễn tả trạng thái đói bụng nên khiến nhóm Vui nhộn đoán nhầm bạn bị đau bụng. Nhưng nhóm Góc Việt đã miêu tả một cách rất thông minh: “Địa danh ấy nằm ở phía Nam, người Singapore bay qua đó mất hai tiếng đồng hồ”, giúp đại diện của nhóm dễ dàng đoán ra đó là TP.HCM... Cuối buổi giao lưu, cả nhóm hát bài Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Ngoài những giờ học vui nhộn và thân tình, học viên cũng thường xuyên đến nhà cô Quỳnh và cô Bích nấu các món ăn Việt Nam. Tùy các bạn thích làm món gì, các cô sẽ cho danh sách các nguyên liệu cần chuẩn bị. Các bạn tự đi chợ, rồi đến nhà cô và trổ tài làm bếp. Cô chỉ hướng dẫn và làm “giám khảo” chứ không trực tiếp tham gia. Trong khi làm, các bạn chụp ảnh rồi đưa lên blog dưới dạng một bài viết vui nhộn tại địa chỉ lavatnus.blogspot.com. Có bạn viết: “Chúng tôi như những con chuột chạy tứ tung trong bếp nhà cô Bích. Rối hết cả lên, nhưng mà vui. Đặc biệt, thưởng thức món ăn mình nấu với cái bụng đói meo mới tuyệt làm sao!”. Vốn khéo làm bếp, cô Bích và cô Quỳnh thường làm bánh và mang vào lớp học cho các bạn nhâm nhi.
Không chỉ là ngôn ngữ
LAV@NUS còn có chương trình Immersion (nói tiếng Việt mọi lúc mọi nơi), đưa học viên sang Việt Nam trong vòng một tháng. Quang kể về kinh nghiệm đi Immersion của mình: “Ba tuần đầu em học tiếng Việt tại TP.HCM. Tuần còn lại em đi khắp nơi, lên Đà Lạt, ra Huế, Hà Nội... Văn hóa Việt Nam rất thú vị. Nếu có dịp em sẽ đi nữa và rủ các bạn cùng đi”. Trước đây, các chuyến đi này được NUS tài trợ. Nay thì học viên phải tự bỏ tiền. Dù vậy, số lượng tham gia vẫn đông. Quỳnh, người Singapore đang học Việt 2, từng tham gia Immersion và làm từ thiện ở Việt Nam, khi thổi nến trong dịp sinh nhật của mình đã ước: “Ước gì mọi người đều học lên Việt 3 và có nhiều người tham gia Immersion”.
Thật ra, việc học tiếng Việt không phải là quá quan trọng đối với các bạn. Không giống Benjamin Freud, người Pháp, đang làm luận án tiến sĩ về Việt Nam thời Pháp thuộc, nhiều bạn được hỏi cho biết không có một mục tiêu cụ thể nào. Song tất cả các bạn đều học rất tích cực và hứng thú, càng học càng thấy yêu mến đất nước Việt Nam, thích tiếng Việt hơn. Cô Lê, thạc sĩ về ngôn ngữ ứng dụng tại Úc và dạy tiếng Anh tại Đại học Quốc gia Hà Nội, nói rằng cô chuyển sang dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bởi muốn làm điều gì đó cho ngôn ngữ mẹ đẻ và quê hương của mình. Và hạnh phúc thay, từ chỗ mơ hồ và không mấy ấn tượng về đất nước Việt Nam, các học viên sau khi đến Việt Nam đã thay đổi hẳn cách nhìn. “Em tâm niệm, dạy ở đây là “nuôi” các em từng ngày, làm sao để các em càng học lên cao càng tốt. Bởi học càng nhiều, các em càng thêm yêu Việt Nam”, cô Lê tâm sự.
Thục Minh
(VP Singapore)
Bình luận (0)