Học viện ứng dụng New Zealand được ưa chuộng nhờ tạo được lợi thế nghề nghiệp

New Zealand cho phép sinh viên quốc tế làm thêm đến 25 giờ/tuần trong thời gian học và toàn thời gian trong các kỳ nghỉ, đồng thời được ở lại nước này làm việc lên đến 3 năm sau tốt nghiệp. Các học viện ứng dụng ngày càng được ưa chuộng nhờ kết nối sâu với doanh nghiệp, tạo lợi thế cho sinh viên gia nhập thị trường lao động hiệu quả.

Học viện ứng dụng - "Chuẩn" thực chiến cho sự nghiệp quốc tế

New Zealand khá cởi mở trong các chính sách quyền lợi làm việc của sinh viên quốc tế. Ngoài các quyền lợi kể trên, sinh viên có thể nhắm tới các lĩnh vực ngành nghề đang thiếu hụt nhân lực tại đây để tăng cơ hội kiếm được việc làm sau tốt nghiệp, như khối kỹ thuật - xây dựng, công nghệ thông tin, y tế - chăm sóc sức khỏe, giảng dạy - công tác xã hội, khoa học thực phẩm - môi trường… Theo đó, các chương trình học tại các học viện ứng dụng tại New Zealand thường được thiết kế tiệm cận với các ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng cao tại nước này.

Học viện ứng dụng New Zealand được ưa chuộng nhờ tạo được lợi thế nghề nghiệp - Ảnh 1.

Các học viện ứng dụng tại New Zealand có kết nối sâu với doanh nghiệp trong khu vực giúp người học tiếp cận chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động

Các học viện công lớn: Học viện Manukau (MIT), Học viện Waikato (Wintec), Học viện Unitec, Học viện EIT, Học viện NMIT… đều có nhiều chương trình khác nhau cho cùng khối ngành học đang khát nhân lực để tạo đầu ra đa dạng cho sinh viên. Đơn cử như ngành Y tá - Điều dưỡng, sinh viên có thể học chương trình chứng chỉ 1,5 năm để gia nhập thị trường lao động sớm với vai trò Y tá ghi danh (Enrolled nurse), hoặc học chương trình cử nhân 3 năm để đảm nhận vị trí Y tá chính quy (Registered nurse). Tương tự, với khối ngành Kỹ thuật (Engineering), sinh viên cũng có nhiều lựa chọn tùy theo mục tiêu nghề nghiệp: chương trình cao đẳng 2 năm để ra làm vị trí kỹ thuật viên, hoặc chương trình cử nhân 3 năm để làm kỹ sư công nghệ (Engineering Technologist) hoặc cử nhân danh dự 4 năm để đảm nhận vai trò kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer).

Điểm cộng lớn nhất của các học viện ứng dụng là mức độ "thực chiến" trong đào tạo. Tỷ lệ thực hành tại các học viện ứng dụng rất cao. Ví dụ, ngành Y tá - Điều dưỡng có 750 giờ thực hành (chứng chỉ) và hơn 1.300 giờ thực hành (cử nhân) trong quá trình học. Một số học viện như NZTC (thuộc Up Education) kết nối sinh viên với các trường mầm non, tiểu học ngay từ đầu để đảm bảo chất lượng kiến tập và thực hành giảng dạy. Ngoài ra, nhờ sở hữu mạng lưới kết nối doanh nghiệp rộng nên trong quá trình học, sinh viên được tiếp xúc với nhiều dự án thực tế của doanh nghiệp, tham gia thực tập tại cơ sở của doanh nghiệp để cọ xát và rèn giũa kỹ năng nghề nghiệp.

Mặt khác, tiêu chí đào tạo tại các học viện ứng dụng đều hướng đến chuẩn quốc tế để tạo bàn đạp cho sinh viên có thể làm việc tại bất cứ đâu sau tốt nghiệp. Ví dụ ngành công nghệ thông tin bậc thạc sĩ tại Học viện Whitecliffe có tới 85% nội dung được thiết kế tương thích với chứng chỉ nghề quốc tế như CCISO. Sinh viên ra trường vừa có bằng cấp quốc tế vừa sở hữu chứng chỉ ngành được công nhận rộng rãi. Hay với khối kỹ thuật, các chương trình học các cấp độ khác nhau đều tương thích chuẩn công nhận quốc tế: bậc cao đẳng tương thích với Hiệp định Dublin (Dublin Accord), bậc cử nhân tương thích với Hiệp định Sydney (Sydney Accord) và bậc cử nhân danh dự tương thích với Hiệp định Washington (Washington Accord) tạo điều kiện cho các kỹ sư hành nghề tại New Zealand có thể chuyển dịch nghề nghiệp toàn cầu nếu muốn.

Học viện ứng dụng New Zealand được ưa chuộng nhờ tạo được lợi thế nghề nghiệp - Ảnh 2.

Sinh viên học viện ứng dụng tại New Zealand được tiếp cận với các thiết bị hiện đại và các dự án thực tiễn nhằm sẵn sàng cho môi trường làm việc trong tương lai

Đầu vào linh hoạt và nhiều học bổng cho sinh viên Việt

Hiện nay, để theo học bậc cử nhân tại các học viện ứng dụng ở New Zealand, sinh viên Việt Nam cần có GPA lớp 12 từ 7.0 và trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 6.0, thay vì phải hoàn thành năm nhất đại học như trước đây. Tùy theo ngành học mà một số trường sẽ điều chỉnh đầu vào nhỉnh hơn hoặc thấp hơn. Ở bậc thạc sĩ, điều kiện đầu vào chủ yếu dựa vào ngành học ở bậc đại học và kinh nghiệm làm việc thực tế.

Các học viện hiện đang triển khai các học bổng dành cho sinh viên Việt Nam, từ 3.000 đến 5.000 đô la New Zealand (khoảng 45 - 75 triệu đồng) tại các học viện công và lên đến 25 - 35% học phí tại các học viện tư. Mức học phí tại các học viện New Zealand dao động từ 25.000 - 30.000 đô la New Zealand/năm (tương đương 375 - 450 triệu đồng/năm).

Học viện ứng dụng New Zealand được ưa chuộng nhờ tạo được lợi thế nghề nghiệp - Ảnh 3.

Lớp học quy mô nhỏ là một trong những đặc trưng của các học viện ứng dụng, giúp giảng viên có nhiều thời gian hướng dẫn và theo sát quá trình phát triển của từng sinh viên

Có thể nói, với ưu thế lớp học quy mô nhỏ, tăng thời lượng thực hành, tích hợp dự án thực tế và các kỳ thực tập tại doanh nghiệp cùng các giảng viên đứng lớp là các chuyên gia trong ngành, các học viên ứng dụng đang thực hiện các "đơn đặt hàng" đào tạo trực tiếp từ thị trường lao động, mang lại lợi thế lớn cho những người học mong muốn xây dựng sự nghiệp quốc tế.

Để hỗ trợ người học Việt Nam tìm hiểu sâu hơn về các học viện ứng dụng tại New Zealand, Cơ quan Giáo dục New Zealand (Education New Zealand - ENZ) thực hiện cẩm nang "Học viện thực chiến xứ Kiwi - Giải mã sức hút của các học viện hàng đầu New Zealand". Ấn phẩm thông tin về học bổng, cơ hội nghề nghiệp cũng như lộ trình học tập tại các học viện New Zealand, giúp người học xây dựng kế hoạch du học phù hợp với mục tiêu học tập và định hướng nghề nghiệp trong tương lai.

Đăng ký nhận ebook miễn phí tại: < https://bit.ly/EbookITP-PTE2026-14 >

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.