Tạo ra chuỗi giá trị, từ nguyên liệu thô đến sản phẩm hoàn thiện
Theo các chuyên gia kinh tế, một khu công nghiệp (KCN) không chỉ có nhiều doanh nghiệp đặt nhà máy mà nhu cầu phát triển hiện nay phải tạo ra được một hệ sinh thái. Hơn nữa, hệ sinh thái công nghiệp kiểu mới còn là nơi phải tạo được liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các đơn vị sản xuất với dịch vụ hỗ trợ. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp có nhu cầu muốn đến một địa chỉ "tất cả trong một". Một địa chỉ mà mọi nguồn lực như năng lượng, nước, vật liệu, logistics, công nghệ, dữ liệu, tài chính và hạ tầng đều được chia sẻ, giúp doanh nghiệp tối ưu trong hoạt động. Chẳng hạn, nhu cầu điện của doanh nghiệp có thể gắn với nguồn năng lượng sạch; nước thải sau xử lý có thể được tái sử dụng; phụ phẩm hoặc chất thải của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác. Khi nhiều doanh nghiệp cùng liên kết với nhau về hạ tầng, năng lượng, logistics và dịch vụ, chi phí đầu tư có thể được phân bổ trên quy mô lớn hơn, giá trị của tài nguyên được kéo dài thêm nhiều "vòng đời", giúp tối ưu chi phí và nâng cao sức cạnh tranh. Đặc biệt, trong hệ sinh thái này, các doanh nghiệp có sự liên kết, trở thành nhà cung cấp hỗ trợ cùng nhau phát triển. Hay có thể nói rằng môi trường cộng sinh đã được hình thành.

KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 quy hoạch ngành nghề có khả năng liên kết chuỗi giá trị
ẢNH: NGUYỄN LONG
KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 (TP.HCM) là minh chứng điển hình và sinh động nhất khi áp dụng triết lý cộng sinh thông qua việc quy hoạch các ngành nghề có khả năng liên kết chuỗi giá trị, nơi phụ phẩm của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác. Với định hướng thu hút các dự án công nghiệp hóa dầu - hóa chất cơ bản - nhựa - năng lượng, KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 đã tạo ra chuỗi giá trị cộng sinh gồm: Chuỗi hóa chất cơ bản; Chuỗi khí hóa lỏng (LNG/LPG); Chuỗi logistics & cảng biển. Việc này giúp giảm thiểu chi phí logistics, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải. Ví dụ việc trao đổi sản phẩm hóa chất ngành giấy giữa Công ty Seiko PMC và Nhà máy giấy KOA; trao đổi sản phẩm thùng nhựa IBC giữa Công ty Schutz và Công ty Tosoh; trao đổi sản phẩm rulo thép giữa Công ty Tân Thuận Đức và Công ty Mi Jack Việt Nam; Nippon Sanso Việt Nam tái sử dụng nước ngưng tụ từ máy nén khí, qua đó tiết kiệm khoảng 85 triệu đồng trong năm 2024… Các hoạt động đó giúp gia tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên; tăng tỷ lệ nội địa hóa; tiết kiệm chi phí vận hành; tối ưu hóa chuỗi cung ứng nội bộ trong KCN, giảm phát thải…
TSKH Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TP.HCM khẳng định, các KCN hiện nay có thể được xem là "hạ tầng tổ chức" của chuỗi giá trị, chứ không chỉ là nơi tập trung nhà máy. Thông qua việc thu hút nhiều doanh nghiệp thuộc các công đoạn khác nhau, KCN tạo điều kiện hình thành chuỗi sản xuất tương đối hoàn chỉnh, từ nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng đến lắp ráp và phân phối sản phẩm cuối cùng. Vai trò này thể hiện ở các khía cạnh như thu hút doanh nghiệp "đầu tàu" và kéo theo mạng lưới nhà cung cấp; Tạo sự tập trung theo ngành và hình thành cụm liên kết sản xuất; Tạo điều kiện chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất; Giảm chi phí giao dịch và logistics. Do đó vai trò của các KCN, đặc biệt KCN xanh - sinh thái rất quan trọng để thúc đẩy cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn.
Gia tăng tỷ lệ nội địa hóa
Không chỉ tạo ra chuỗi giá trị, KCN xanh - sinh thái cũng là nơi thúc đẩy chuỗi cung ứng và tăng kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Công ty TNHH Tokuyama Việt Nam khánh thành Nhà máy sản xuất Polysilicon phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn nằm trong KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3
ẢNH: KCN CHUYÊN SÂU PHÚ MỸ 3
Chẳng hạn, Công ty Tokuyama Việt Nam (Nhật Bản) - nhà sản xuất Polysilicon cho ngành công nghiệp bán dẫn - giữa tháng 8 đã khánh thành Nhà máy sản xuất Polysilicon phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn, thuộc Dự án Silicon Toàn cầu (Global Silicon Project) tại KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3. Dự án mở ra bước phát triển mới trong việc hình thành và hoàn thiện chuỗi cung ứng vật liệu công nghệ cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp bán dẫn tại VN - một lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Hay trước đó, Công ty TNHH Showa Sangyo International Việt Nam đã chính thức công bố đưa vào vận hành Nhà máy Sản xuất bột trộn sẵn tại Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3. Dự án được triển khai trên diện tích 1,3 ha với tổng vốn đầu tư 21 triệu USD. Theo ông Maruyama Shinji - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Showa Sangyo International Việt Nam, việc đưa nhà máy vào vận hành là bước tiến quan trọng trong hành trình cung cấp các giải pháp nguyên liệu thực phẩm toàn diện tại thị trường Việt Nam. Doanh nghiệp không chỉ cung ứng nguyên liệu đơn lẻ mà trực tiếp thiết kế sản phẩm hoàn chỉnh từ kết cấu đến hương vị, nhằm gia tăng giá trị cho các đối tác trong ngành thực phẩm… Không chỉ có các doanh nghiệp FDI, trong đầu tháng 6, Công ty cổ phần Tôn Đông Á đã tổ chức lễ khởi công Nhà máy 4 - Công ty TNHH Đông Á Phú Mỹ tại đây. Với tổng vốn đầu tư lên đến 7.000 tỉ đồng, Nhà máy 4 được định hướng trở thành trung tâm sản xuất các dòng thép chuyên biệt chất lượng cao, với tổng công suất thiết kế đạt 1,2 triệu tấn/năm. Giai đoạn 1 của dự án có công suất 600.000 tấn/năm và dự kiến đi vào vận hành từ năm 2027, tạo nền tảng để Tôn Đông Á nâng cao năng lực cung ứng cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Dự án còn mở ra hướng phát triển mới khi Tôn Đông Á mở rộng danh mục sản phẩm sang các dòng thép chuyên biệt phục vụ những ngành công nghiệp có yêu cầu kỹ thuật khắt khe như thiết bị gia dụng, nội thất, ô tô và công nghiệp chế tạo. Đây là nhóm sản phẩm có tiềm năng tăng trưởng cao, phù hợp với xu hướng nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất công nghiệp tại Việt Nam… Rõ ràng việc tập trung ngày càng nhiều doanh nghiệp nước ngoài và trong nước tại KCN xanh - sinh thái như KCN Phú Mỹ 3 là một điển hình cho thấy sẽ thúc đẩy khả năng đáp ứng nguyên phụ liệu cho nhiều ngành sản xuất ngay trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu từ bên ngoài.
KCN xanh - sinh thái thúc đẩy kết nối chuỗi cung ứng
Với Việt Nam, mô hình KCN xanh - sinh thái còn là một trong những giải pháp quan trọng để kết nối doanh nghiệp trong và nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ đó thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ. Thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó đảm nhiệm chi phí đầu tư hạ tầng cao, khó tiếp cận dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, thiếu mặt bằng sản xuất phù hợp và hạn chế trong kết nối với các doanh nghiệp FDI. Các KCN với hệ thống nhà xưởng dùng chung sẽ cung cấp không gian sản xuất linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp và các nhà cung ứng mới tham gia chuỗi sản xuất. Tương tự, hệ thống xử lý nước thải trong KCN cũng được quy hoạch theo hướng tập trung, hướng tới kiểm soát môi trường sản xuất, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về phát triển xanh và bền vững. Song song, hệ thống logistics đồng bộ góp phần giảm chi phí logistics; dịch vụ pháp lý và kế toán… Đặc biệt, cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư, đơn vị phát triển hạ tầng, nhà cung ứng và khách hàng trong chuỗi giá trị công nghiệp sẽ giúp tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và các tập đoàn FDI, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

KCN xanh- sinh thái kết nối doanh nghiệp trong và ngoài nước, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa - Trong ảnh là KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3
ẢNH: NGUYỄN LONG
TSKH Trần Quang Thắng nhấn mạnh: Số lượng doanh nghiệp đông chưa đồng nghĩa với chuỗi giá trị đã được hình thành. Nếu các doanh nghiệp trong KCN hoạt động rời rạc, nhập hầu hết nguyên liệu và linh kiện rồi chỉ thực hiện công đoạn lắp ráp, KCN có thể vẫn mang tính chất "ốc đảo sản xuất". Hiện nay, nhập khẩu linh kiện và bán thành phẩm vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước có quy mô nhỏ và còn hạn chế về vốn, công nghệ và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, tác động quan trọng nhất của KCN là tạo ra quy mô thị trường và môi trường kết nối để nội địa hóa chuỗi cung ứng. Để biến tiềm năng đó thành kết quả thực tế, cần lựa chọn nhà đầu tư theo định hướng chuỗi ngành, phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp và có cơ chế kết nối mua hàng giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây cũng là định hướng của Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035, với mục tiêu nâng năng lực sản xuất đầu vào trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.
Từ đó, vị chuyên gia này cho rằng để thúc đẩy chuỗi cung ứng và tăng kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, cần chuyển từ tư duy "lấp đầy diện tích" sang phát triển hệ sinh thái sản xuất theo chuỗi ngành. Trọng tâm không chỉ là thu hút thêm doanh nghiệp, mà phải chủ động ghép nối nhu cầu mua hàng của doanh nghiệp dẫn dắt với năng lực cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam.
Ở góc độ chủ đầu tư KCN: Cần quy hoạch danh mục ngành và "mắt xích còn thiếu". Tổ chức kết nối theo đơn hàng thực tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp dùng chung. Bố trí nhà xưởng xây sẵn quy mô nhỏ, hợp đồng thuê linh hoạt, dịch vụ pháp lý - hải quan - logistics và gói hỗ trợ thử nghiệm sản xuất, giúp doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí gia nhập chuỗi. Thiết lập trung tâm hỗ trợ nhà cung ứng tại KCN. Phát triển cộng sinh công nghiệp.
Ở góc độ chính sách của Nhà nước, cần tăng phối hợp vùng và theo dõi bằng chỉ tiêu kết quả; Chuyển ưu đãi đầu tư từ quy mô vốn sang chất lượng liên kết; Hoàn thiện hạ tầng và thể chế cho KCN chuyên ngành, KCN hỗ trợ và KCN sinh thái; Hỗ trợ nâng cấp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ; Phát triển nhân lực theo nhu cầu chuỗi; khuyến khích chương trình đào tạo kép giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp quốc gia có khả năng liên thông.
TS Nguyễn Quang Thắng:
Về tổ chức thực hiện, nên hình thành cơ chế phối hợp gồm cơ quan quản lý, chủ đầu tư KCN, doanh nghiệp dẫn dắt và cơ sở đào tạo - nghiên cứu. Mỗi KCN cần có một đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm kết nối cung - cầu và một kế hoạch nội địa hóa theo ngành với mục tiêu hằng năm. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng của Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Đó là lấy yêu cầu kỹ thuật và tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng quản trị, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi cung ứng.









Bình luận (0)