Xin trích bài số 1 Phong hóa trong quyển Morale pratique à l'usage des Élève des Écoles de l'Indochine (Đạo đức thực hành dùng (dạy) cho học trò các trường ở Đông Dương) cũng là bài tựa chung cho tập sách giáo khoa này.
"Con trẻ! Nơi trường bây học văn chương nghĩa lý, bá công chư nghệ. Vậy cũng chưa đủ mà ở đời. Muốn rõ đạo làm người phải biết Phong hóa mới được.

Sách Phong hóa
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Sách Phong hóa dạy ta biệt phân điều trái phải, lẽ tà chánh, cuộc ngay gian; bày rõ ràng đạo làm người; chỉ rạch ròi điều phải sự quấy, đặng lấy đó làm gương soi mình; dạy cho đến cách ăn ở đời thế nào cho xứng phận xứng duyên, cùng là phải làm làm sao cho hiệp với lương tâm.
Ới các con! Ta cố ý đặt sách này ra cho bây. Vậy bây phải xem đọ kỹ càng, hầu sau đặng nên danh con thảo cùng người thuần đức.
Hiền xưa có nói rằng:
Ngọc bất trác, bất thành khí
Nhân bất học, bất tri lý
Nghĩa là:
Không giồi ngọc chẳng ra chi
Người mà không học thị phi đâu tường".
Hoặc bài thứ 9 có tựa Từ mẫu:
"Con trẻ! Ở đời có ai thương con cho bằng mẹ? Tình mẹ lai láng như sông như biển. Vì con mà vong phế mọi việc; coi con như vàng như ngọc; lo từ bữa ăn giấc ngủ cho con.
Khi bây bé thơ, dạy nói từ tiếng, tập đi từ bước. Bây có vinh vang sức mẩy, chơn chạy không bén đất, quên ăn quên ngủ, ngày đêm chẳng rời con.
Ai săn sóc con cho bằng mẹ? Ngày nay mà bây còn thấy đất trời, cũng nhờ chưng có mẹ.
Ớ con trẻ! Hãy thương mẹ bây cho hết lòng và phải lo đền ơn: thập ngoạt hoài thai, lưu niên nhũ bộ.
Nghĩa là:
Mười tháng đợi mong bây trong bụng, ba năm lo bú mớm".
Quyển thứ ba là Ấu học bị thế. Ngoài bìa phía trên cùng ghi "Các sách học mới để các trường ở Đông Dương dùng - ông Henri le Bris - đốc học Trường Pháp Việt Thừa Thiên soạn. Sửa lại theo tiếng Nam kỳ đặng thông dụng trong các trường làng và trường tổng". Sách này khổ 13 x 21,5 cm, 136 trang, do Imprimerie commerciale, C. Ardin et Files xuất bản năm 1916 tại Sài Gòn. Sách giáo khoa này gồm 160 bài học, chia làm 8 phần: Thân thể; Vệ sinh; Loài vật; Cây cối; Đất, đá, kim loại; Trời, đất, địa cầu; Xứ Nam kỳ và các xứ lân cận Đại Pháp; Xứ Nam kỳ, dân số, sử ký; Nói về cách chánh trị trong Nam kỳ. Ở cuối mỗi bài đều có câu hỏi dành cho học trò, và những bài địa lý đều có in bản đồ. Bài viết dễ hiểu, ngắn gọn"

Bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa
ẢNH: TƯ LIỆU LÊ MINH QUỐC
Bài số 13 có tựa Ghẻ trong cuốn này như sau:
"Anh em bạn học tôi tên là Mít có nhiều ghẻ; nó gãi hoài. Khi đầu ở trường có một mình nó có ghẻ mà thôi, sau lại trò Tư và trò Năm cũng có ghẻ nữa. Thầy tôi biểu ba trò ấy ở nhà kẻo lây ghẻ cho các trò khác. Hôm qua trò Mít đến học mà đã lành ghẻ rồi, thầy tôi hỏi làm sao mà mau lành như vậy. Trò Mít trả lời rằng: Cách tám ngày rày ông Thầy thuốc Tây có đi đến làng tôi; người biểu tôi lấy xà bông đen mà tắm, mỗi ngày phải lấy thuốc gián (sic) vàng của người cho mà thoa lên chỗ có ghẻ. Đương lúc ấy tôi mặc áo cũ. Mẹ tôi đem trụng mấy cái áo tôi thường mặc. Khi ghẻ lành rồi, tôi mặc áo quần sạch sẽ. Mẹ tôi lấy mà nấu mấy cái áo dơ đi, lấy nước sôi mà rửa cái giường tôi nằm và đem ra phơi nắng. Tôi hết đau ghẻ đã được ba ngày rày, không còn một mụt ghẻ nào nữa. Chị tôi và thằng đầy tớ tôi cũng có ghẻ, mà cũng làm như vậy, rồi cũng nhẹ ghẻ hết.
Thầy tôi khen trò Mít mà nói rằng: "Như trong mình và áo quần sạch sẽ luôn luôn thì không bao giờ mà có ghẻ".
Câu hỏi: - Ghẻ có lây không? - Phải làm sao cho khỏi ghẻ? - Nếu có ghẻ phải làm gì cho hết ghẻ?
Cách dạy: như có nhiều học trò có ghẻ, thì Thầy phải khuyên cha mẹ chúng nó mua thuốc Pommade d'Helmerich và xà bông đen giá không bao nhiêu tiền".
Quyển Morale et leçons (lecons) de choses a l'usage des élèves des écoles de l' Indochine của J.C.Boscq, do Imprimerie de l'union 157 Rue Catinat in tại Sài Gòn năm 1919, khổ 23,5 x 5 cm, dày 51 trang cũng dành cho học trò tiểu học. Sách dạy bổn phận làm con, thú vật nuôi trong nhà, trái đất, thân thể người ta, đồng hồ, biển... Văn phong ngắn gọn dễ hiểu và có cả tranh minh họa đẹp mắt, lấy từ sách giáo khoa của Pháp chứ không phải do họa sĩ của ta minh họa. Xin trích lấy một bài "Mặt nhựt - nhựt thực" như sau:
"Mặt nhựt chiếu sáng trái đất cùng làm cho đất ấm.
Mặt nhựt lớn hơn trái đất một triệu ba mươi muôn lần. Ta thấy mặt nhựt nhỏ lắm là tại ta ở cách xa quá.
Mặt nhựt ở xa trái đất ba mươi bảy triệu dặm tây.
Ta xem ra thì hình như mặt nhựt xây (sic) chung quanh trái đất; mà thiệt sự là trái đất xây chung quanh mặt nhựt.
Có khi mặt nguyệt áng mặt nhựt không cho chiếu thấu trái đất. Khi ấy mặt nguyệt ở chính giữa mặt nhựt cùng trái đất đứng đồng với nhau một hàng chữ nhứt. Không có yến sáng mặt nhựt thì trái đất phải tối, gọi là: nhựt thực" (tr.16). (còn tiếp)
Bình luận (0)