Ấy vậy mà gần đây, trên một số diễn đàn, hội nghị có một số ý kiến phản đối lãi suất thực dương. Có hai điểm đáng lưu ý về những ý kiến này. Điểm thứ nhất là họ đã phê phán quan niệm lãi suất thực dương, cho rằng đó là ảo tưởng. Cần chú ý, đó là chủ trương của Chính phủ, chủ trương của Ngân hàng Nhà nước, hơn nữa kiềm chế lạm phát, thắt chặt chính sách tiền tệ là một trong năm vấn đề lớn cần chỉ đạo tập trung, quyết liệt, đồng bộ. Điểm thứ hai, xuất xứ những ý kiến này lại là ý kiến của một số người ở Hiệp hội Ngân hàng, ở ngân hàng thương mại, đã đưa ra lý do mong muốn người gửi tiền chia sẻ với ngân hàng thương mại trong thời kỳ lạm phát. Lý giải này của họ nghiêng về vấn đề lợi ích giữa ba nhóm (người gửi tiền, ngân hàng thương mại và người vay tiền), nhưng họ lại quên mất cái lợi ích lớn hơn đối với cả đất nước, đối với cả 86 triệu người dân Việt Nam, bởi lãi suất thực dương không chỉ là lợi ích của người gửi tiền, mà trong điều kiện mục tiêu kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì lãi suất thực dương là biện pháp để hút tiền từ lưu thông về, là biện pháp cơ bản nhất để làm giảm áp lực của tiền tệ lên lạm phát. Đây là bài học của thời kỳ chống lạm phát cách đây hai mươi năm. Vào lúc đó, các chuyên gia đề xuất tới 4 phương án chống lạm phát, nhưng Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lựa chọn phương án khóa van đưa tiền ra lưu thông, nâng lãi suất huy động lên 13%/tháng để hút tiền từ lưu thông về. Biện pháp này đã góp phần quan trọng làm cho lạm phát phi mã được chặn đứng sau đó.
Hãy nhớ lại vào tháng 3 năm nay, cũng những ý kiến trên đã đồng thuận đưa ra trần lãi suất 11%/năm (tức là mức lãi suất dưới 1%/tháng) ngay cả khi tốc độ tăng giá tiêu dùng sau 3 tháng đã lên đến 9,19% (tức là tăng trên 3%/tháng); chỉ đến khi sau 4 tháng, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến 11,6% còn cao hơn mức trần lãi suất huy động tính cho kỳ hạn năm - thì họ mới chịu rút lui ý kiến khống chế trần lãi suất 11%/năm. Bởi vào lúc đó không chỉ lạm phát đã quá cao, mà các ngân hàng thương mại còn gặp khó khăn lớn về thanh khoản do đầu vào thì bị khống chế bằng trần lãi suất huy động thấp, vay trên thị trường liên ngân hàng thì ở mức quá cao (có lúc lên đến 30 - 40% tính theo năm), còn ở đầu ra do các ngân hàng đã cho vay một cách dễ dãi trước đây cho cả những lĩnh vực nóng đầy rủi ro nay chưa thu hồi được.
Các ý kiến trên cũng cho rằng, dù lãi suất huy động đã ở mức khá cao, nhưng lượng tiền vào ngân hàng thương mại vẫn ít, tăng chậm và từ đó cho rằng nâng lãi suất huy động cũng không có tác dụng hút tiền về. Đó là sự lạ lùng: chính lãi suất chưa đủ cao, nên chưa hấp dẫn người gửi tiền. Với mức lãi suất kỳ hạn năm là 17 - 18%/năm (hay 1,4 - 1,5%/tháng), trong khi giá tiêu dùng mới qua 7 tháng đã tăng tới 19,78% hay tăng 2,61%/tháng - tức là cao hơn mức lãi suất kỳ hạn năm, nói lãi suất thực dương không có nghĩa là mức lãi suất hiện nay phải đưa lên cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng tính từ đầu năm, mà cần tính từ nay trở đi. Mức lãi suất huy động hằng tháng hoặc tính cho kỳ hạn một năm tới phải cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng tính trong thời gian tương ứng. Sẽ có một lượng tiền lớn hơn từ lưu thông được hút vào ngân hàng thương mại nếu lãi suất huy động cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng!
Cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, cả về lợi ích đại cục của quốc gia, lãi suất huy động cần phải cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng. Lãi suất EU cũng cao hơn lạm phát. Lãi suất của Nhật Bản cũng cao hơn lạm phát. Lãi suất của Mỹ trong thời gian dài cũng cao hơn lạm phát; chỉ đến khi cần ngăn chặn nguy cơ kinh tế suy thoái mới hạ lãi suất cơ bản (1% cách đây 4 năm và 2% cách đây ít tháng), nhưng khi lạm phát tăng lên thì lãi suất cơ bản của họ đã tăng trở lại để ngăn chặn lạm phát (đã từng là 6,75% vào năm 2001 và 5,25% vào cuối năm ngoái, trong khi lạm phát ở Mỹ trong thời kỳ đó chỉ trên dưới 3%).
Đào Ngọc Lâm
Bình luận (0)