Công nhận học tập trước không thay thế văn bằng
Theo dự thảo, công nhận học tập trước là việc xem xét, đánh giá và công nhận kết quả học tập, kỹ năng, năng lực mà người học đã đạt được, trên cơ sở so sánh với mô tả bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia. Việc công nhận này làm căn cứ cho liên thông, chuyển đổi, miễn trừ một phần nội dung đào tạo và không thay thế việc cấp văn bằng, chứng chỉ, được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Dự thảo đồng thời giao Bộ GD-ĐT hướng dẫn chi tiết việc thực hiện công nhận học tập trước, liên thông và chuyển đổi trong phạm vi quản lý, nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi trong toàn hệ thống.
Theo Bộ GD-ĐT, việc bổ sung nguyên tắc này nhằm đưa Khung trình độ quốc gia từ vai trò khung mô tả trình độ trở thành công cụ vận hành học tập suốt đời và thị trường kỹ năng, phù hợp với thông lệ quốc tế về công nhận học tập trước (Recognition of Prior Learning – RPL). Quy định này cho phép kỹ năng, kinh nghiệm làm việc và các hình thức học tập không chính quy, phi chính quy được đánh giá và đối sánh với các mô tả bậc trình độ, tạo cơ sở cho liên thông, chuyển đổi và miễn trừ một phần nội dung đào tạo mà vẫn bảo đảm chuẩn đầu ra.
Đáng chú ý, dự thảo nhấn mạnh công nhận học tập trước không thay thế việc cấp văn bằng, chứng chỉ. Theo Bộ GD-ĐT, quy định này nhằm giữ vững tính nghiêm ngặt của hệ thống bằng cấp, đồng thời tạo ra cơ chế linh hoạt và công bằng hơn cho người học, người lao động trong bối cảnh học tập suốt đời đang trở thành yêu cầu tất yếu.
Quy định riêng về lĩnh vực sức khỏe
Một nội dung mới khác trong dự thảo là việc lần đầu đưa ra quy định riêng đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, phản ánh tính đặc thù và yêu cầu khắt khe của lĩnh vực này.
Theo đó, việc thiết kế, ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe phải bảo đảm phù hợp với mô tả bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cũng như pháp luật chuyên ngành y tế.

Dự thảo là việc lần đầu đưa ra quy định riêng đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe
ẢNH: YẾN THI
Dự thảo nêu rõ, chuẩn đầu ra, nội dung đào tạo, thời lượng và hình thức thực hành lâm sàng, đánh giá năng lực chuyên môn và các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với chương trình đào tạo lĩnh vực sức khỏe được thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế và giáo dục. Khung trình độ quốc gia chỉ được sử dụng làm căn cứ tham chiếu trình độ, không thay thế các quy định chuyên môn nêu trên.
Đối với việc công nhận học tập trước, liên thông, chuyển đổi và công nhận tương đương trình độ trong lĩnh vực sức khỏe, dự thảo quy định việc thực hiện phải căn cứ vào kết quả học tập đạt được, phù hợp với mô tả bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia và tuân thủ pháp luật có liên quan. Đặc biệt, việc công nhận này không làm căn cứ trực tiếp để cấp văn bằng, chứng chỉ hành nghề hoặc cho phép hành nghề độc lập.
Theo Bộ GD-ĐT, việc quy định riêng đối với lĩnh vực sức khỏe là cần thiết bởi đây là lĩnh vực có rủi ro cao đối với an toàn người bệnh và lợi ích xã hội, đồng thời chịu sự điều chỉnh song song của pháp luật về giáo dục và pháp luật chuyên ngành y tế. Quy định này nhằm khẳng định rõ vai trò của Khung trình độ quốc gia là khung tham chiếu trình độ, bảo đảm sự tương thích về cấp độ và năng lực giữa các trình độ đào tạo, trong khi các yêu cầu chuyên môn phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của ngành y tế.
Bên cạnh đó, việc cho phép áp dụng cơ chế công nhận học tập trước, liên thông và chuyển đổi trong lĩnh vực sức khỏe được kỳ vọng sẽ mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp cho người học, song vẫn được giới hạn chặt chẽ để bảo đảm an toàn nghề nghiệp, an toàn người bệnh và tính toàn vẹn của hệ thống quản lý hành nghề y tế.
Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân.
1. Bậc 1 đến bậc 3: Các trình độ kỹ năng và sơ cấp theo mức độ tăng dần, đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc từ đơn giản đến có cấu trúc, chủ yếu dưới sự hướng dẫn và giám sát.
2. Bậc 4 (Trung cấp): Trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc có kỹ thuật, quy trình tương đối ổn định; có khả năng phối hợp, chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
3. Bậc 5 (Cao đẳng): Trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc phức tạp hơn so với Bậc 4; có khả năng phân tích, cải tiến quy trình, hướng dẫn người khác và giải quyết vấn đề trong bối cảnh công việc quen thuộc.
4. Bậc 6 (Đại học): Trình độ đáp ứng yêu cầu vận dụng kiến thức chuyên sâu; tư duy phản biện; giải quyết vấn đề trong bối cảnh công việc đa dạng; có khả năng tự chủ và chịu trách nhiệm nghề nghiệp.
5. Bậc 7 (Thạc sĩ): Trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng tri thức nâng cao; có thể theo định hướng hàn lâm (học thuật) hoặc định hướng nghề nghiệp (chuyên môn), ứng dụng; có khả năng lãnh đạo chuyên môn và chịu trách nhiệm nghề nghiệp ở mức cao.
6. Bậc 8 (Tiến sĩ): Trình độ đáp ứng yêu cầu sáng tạo tri thức mới; nghiên cứu độc lập; chịu trách nhiệm học thuật ở mức cao nhất; có thể theo định hướng hàn lâm (học thuật) hoặc định hướng nghề nghiệp (chuyên môn), ứng dụng.
Bình luận (0)