Món quà định mệnh

02/01/2006 22:06 GMT+7

Tốt nghiệp cử nhân sinh học, làm việc 5 năm trong lĩnh vực môi trường rồi học thạc sĩ về sinh thái học nhân văn, những tưởng tôi sẽ trở thành một nhà nghiên cứu, một giảng viên đại học hay theo đuổi các dự án về môi trường. Có ai ngờ tôi trở thành nhà báo. Họ hàng tôi chẳng có ai theo nghiệp văn chương, văn nghệ, truyền thông gì cả. Thế mới hay "con tạo xoay vần", chẳng lường trước được. Nhưng mọi sự đều có căn nguyên của nó. Tôi trở thành nhà báo bắt nguồn từ một món quà, nói cho đúng là một học bổng.

Quê tôi là mảnh đất Dục Mỹ khắc khổ, khô cằn của tỉnh Khánh Hòa. Những năm đầu thập niên 90, tôi đi học cấp 3 ở thị trấn Ninh Hòa. Nhà cách trường 15 cây số, mỗi ngày tôi đạp xe đều đặn đi về. Đầu năm lớp 12, nhà trường thông báo tôi được học bổng Nguyễn Thái Bình của Báo Thanh Niên, trị giá 900.000 đồng. Tính ra khoảng 3 chỉ vàng thời ấy. Tôi vui sướng lắm. Lúc đó đã mua đủ bộ đề luyện thi đại học nên số tiền học bổng tôi gửi má trọn vẹn để dành đi thi đại học.

Thầy giáo, nhà báo Nhựt Quang khi ấy vừa dạy học, vừa là phóng viên Báo Khánh Hòa và cộng tác viên Báo Thanh Niên, đã tìm đến trường để phỏng vấn và viết bài về tôi. Chú cháu biết nhau từ đó.

Năm 1994, tôi đỗ đại học ở Sài Gòn nhưng gia đình buộc tôi học ĐH Thủy sản Nha Trang bởi ba má tôi lo chi tiêu ở Sài Gòn đắt đỏ cùng với những "cạm bẫy" đối với con gái "nhà quê lên tỉnh". Thuyết phục gia đình không được, chú Quang đánh liều vận động bạn bè gom tiền cho tôi vào Sài Gòn thử vận. Trao tôi 200.000 đồng, chú Quang dặn: "Số tiền này chỉ đủ để cháu đi xe, nếu vào Sài Gòn người ta không cho cháu đăng ký học vì đến muộn thì cháu quay về ngay để nhập học ở Nha Trang vẫn còn kịp. Nếu được thì cố gắng ở lại đó học, chú sẽ tính tiếp".

Tôi mang 200.000 đồng về nhà và nói với má chuyện chú Quang và tôi đã bàn bạc. Cầm lòng không đậu, má đưa 500.000 đồng là số tiền chuẩn bị cho tôi nhập học ở Nha Trang và nửa chỉ vàng. Tôi ngơ ngác khăn gói lên đường. Ba tôi không biết chuyện đó. Dẫu sao, tôi cũng có nhiều bà con ở Sài Gòn. Ngày hôm sau, tôi điện thoại về nhà và cả chú Quang thông báo rằng tôi đã đăng ký nhập học xong. Chú Quang rất vui còn má tôi thì báo cho ba biết chuyện tôi học ở Sài Gòn.

Những năm học rồi ra trường đi làm ở Sài Gòn, tôi cũng ít quan tâm đến báo chí, và có lẽ cũng không nhớ đến Báo Thanh Niên. Rồi, tôi có một anh bạn làm cùng lĩnh vực giao thông - công chính, anh ấy quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề kinh tế xã hội và báo chí. Lúc nào anh cũng mang theo một hai tờ báo. Buổi trưa, anh thường hẹn tôi đi ăn. Hễ tới bãi giữ xe của quán mà thấy một chiếc xe có kẹp tờ Thanh Niên thì tôi biết anh đã đến. Có hôm, anh chỉ cho tôi một bức ảnh trên một tờ báo nổi tiếng và nói: "Em xem người ta đưa một bức ảnh vô thưởng vô phạt, lai lịch không rõ ràng thế này rồi kết luận đây là một vụ tráo đổi đề thi. Thật là hết sức vô căn cứ". Và anh kết luận: "Nếu muốn tìm những thông tin trung thực, gai góc, em phải đọc Báo Thanh Niên". Câu nói đó gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. Mặc dù vậy, báo chí đối với tôi cũng vẫn chỉ là "đọc cho biết" thôi.

Rồi tôi đi du học. Chú Quang cũng đã chuyển vào Sài Gòn và làm việc cho Báo Thanh Niên. Những ngày đầu lạ lẫm với môi trường mới, tôi thường gửi mail tâm sự với chú Quang. Chú khuyến khích tôi thể hiện những cảm xúc, những điều mắt thấy tai nghe thành những bài viết để đăng Báo Thanh Niên. Tôi đã làm như vậy. Bài tôi gửi về được chú Quang biên tập lại trước khi đưa lên các bộ phận biên tập cao hơn. Bài báo đầu tiên của tôi là bài Không ai chào thầy. Bút danh Thục Minh do chú Quang đặt cho cũng từ đó xuất hiện trên Báo Thanh Niên. Và tôi bắt đầu đọc Thanhnien Online nhiều hơn.

Cho đến một ngày, Báo Thanh Niên đăng tin tuyển phóng viên, biên tập viên không cần bằng cấp báo chí, tôi chợt nảy ra ý định gửi hồ sơ tham dự cho vui. Hồ sơ gửi từ Bỉ về, tôi đoán nó đến muộn hơn hạn định rất nhiều và khả năng bị thất lạc là rất cao. Tôi đã quá quen với điều này. Nhưng lần này thì tôi may mắn. Thư đến tay người nhận trong vòng chưa đầy một tuần. Và ngày thứ 11 thì tôi nhận được e-mail từ Báo Thanh Niên. Bức mail có đoạn viết thế này: “Hồ sơ của bạn sẽ được Hội đồng xét tuyển xem xét, nhưng tôi có thể nói ngay với bạn rằng, tôi sẽ đề nghị nhận bạn làm phóng viên chính thức của báo ngay sau khi bạn hoàn thành chương trình học tập và trở về nước. Trong khi đợi bạn về nước vào tháng 10, Báo Thanh Niên đồng ý nhận bạn làm cộng tác viên chính thức như bạn đề nghị”. Thật sự lúc đó tôi không biết nên mừng hay nên lo, nhưng tôi rất vui sướng. Mở toang cửa, tôi chạy ra nhà bếp và reo to: “Báo Thanh Niên đã nhận tớ làm cộng tác viên chính thức từ bây giờ, và trở về nước họ sẽ nhận tớ làm phóng viên”. Các bạn ở chung ký túc xá cũng vui lây: “Xin chúc mừng! Cậu đã trở thành nhà báo!”.

Bạn bè nghe tin cũng gửi thư chúc mừng, nhưng những người thân thiết nhất của tôi thì tỏ ra ái ngại. Bức tin nhắn từ thầy Hens, người mà tôi luôn nhắc tên trong các bài viết về chuyện học hành ở Bỉ, phúc đáp cho thông báo của tôi chỉ vỏn vẹn có một chữ “Congratulations”. Tôi biết thầy không ưng bụng. Thầy muốn tôi phải làm xong luận án tiến sĩ trước khi trở về Việt Nam. Một anh bạn yêu thương tôi như em gái thì bảo: “Em chân thật, hồn nhiên và lý tưởng. Và cả ba phẩm chất ấy đều khó sống được với nghề báo hiện nay. Anh vẫn thiên về suy nghĩ là em làm công việc giảng dạy hay nghiên cứu, rồi xem chuyện viết báo là một công việc vui vẻ”. Tôi thật sự hoang mang.

Tôi đem niềm hoang mang ấy chia sẻ với con người đã nói “tôi sẽ đề nghị nhận bạn làm phóng viên chính thức”. Người ấy gửi lại cho tôi một e-mail có đoạn thế này: “...Và có rất nhiều chuyện liên quan đến nghề báo mà khi đối diện với lương tâm của mình chúng ta mới thấy. Một anh thợ mộc làm ra một chiếc ghế, anh ta biết chắc chiếc ghế đó là có ích vì sẽ có người ngồi. Còn một nhà báo viết một bài, nó có ích cho ai không, điều đó khó nói lắm… Điều tôi muốn nói là, làm báo là chấp nhận dấn thân. Chúng ta không thể dấn thân được nếu không say mê công việc và không yêu con người. Mỗi con người là một số phận...". Tôi quyết định book vé bay về nước.

Báo với thầy Hens về quyết định của mình, thầy đăm đăm nhìn vào mắt tôi, hỏi lại: “Are you sure?” Tôi gật đầu cương quyết. Thầy trầm tư: “Tôi ủng hộ. Vì đó là quyết định của em. Chúc em thành công”.

Tôi tin mình sẽ thành công. Báo Thanh Niên, người đã hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần, đã giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn, nhất là những khi tôi lúng túng ở ngã ba đường, là nơi tôi có niềm tin, niềm tự hào mãnh liệt. Và chính niềm tin, niềm tự hào đó sẽ giúp tôi thành công.

Thục Minh

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.