Trong khi đó, bảy vạn dân đồng bằng cần cơ sở địch hậu, cần du kích lập thành thế trận. Miền núi nghìn trùng cần lập căn cứ địa: Bắc Ái, Hạnh Phúc, Tương Lai... Trương Công Thuận trụ suốt hai năm liền với một ban cán sự hai người, bền bỉ gầy dựng vùng cực Nam lớn mạnh. Đùng một cái, có lệnh gấp điều ra làm Bí thư miền tây Quảng Nam, nơi ấy địch đang âm mưu lấn chiếm, hình thành những ổ vũ trang "Goum!". Miền tây Quảng Nam hồi đó là đơn vị trực thuộc Liên khu ủy V. Hình như khi anh ra đời từ cái làng Phụng Tây ấy đã mang dấu ấn chỉ "điều động" trong người! Cuộc đời gọi đúng tên, điền vào những nơi khó "gặm" nhất (chữ này tôi nhặt được của một người đương thời). Lúc thì "khẩn cấp", lúc thì "cần kíp", và cứ phải "gấp rút" theo lệnh, khăn gói lên đường. Vài ba năm "khăn gói" một lần. Bạn đọc hãy dõi theo người thanh niên quê tôi, chưa một ngày khỏi phải "gấp rút" kể từ tuổi mười bảy "dấn thân". Vẫn chưa hết nỗi đoạn trường "điều động" này đâu. Trương Kiểm biết giữ cho mình một thể lực dẻo dai, lại thêm vài miếng võ phòng thân học lỏm từ thời lăn lộn bí mật. Những tên hương vệ bắt anh ngày ấy còn giữ ấn tượng kinh sợ về miếng võ bất ngờ này.
Nếu lần giở sổ đời, từ năm 1942 tù khổ sai Buôn Ma Thuột, đây là lần đầu Trương Kiểm trở lại quê hương miền tây xứ Quảng. Hết chống đói cơm, lại chống lạt muối, chống cả hủ tục hằng năm bí mật lấy đầu nhau, chống nanh vuốt địch luồn lách rừng sâu núi thẳm lập mưu nổi loạn, ngày đêm nghiền ngẫm với các già làng nổi dậy chống "Goum". Dân làng
|
Trước khi qua đời, Trương Chí Cương đã nói với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm: "Chỉ tiếc là không có sức khỏe để phục vụ Đảng, phục vụ dân tộc góp phần hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước". Đó cũng là ước mơ suốt đời của Trương Chí Cương. (Trích tiểu sử đăng cùng cáo phó đồng chí Trương Chí Cương, Báo Nhân dân số ra ngày 25/3/1975) |
"Bọn trẻ chi bộ" thuở ấy, bây giờ đã mỗi người một việc. Lê Thạnh, chàng thợ may có sống mũi cao như Tây, luôn là người tổ chức cơ sở quần chúng vùng tạm chiếm. Anh bị giặc thủ tiêu chỉ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vài năm. Trương Cảnh, anh thợ hớt tóc nhỏ con, gầy gò, ra Bắc làm bảo tàng. Ở Hà Nội, anh gặp lại Trương Kiểm - lúc này là Trương Chí Cương, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành trung ương. Anh Trương Chí Cương mang gỗ tới nhờ tìm người đóng giường. Ông Cảnh than phiền: "Ủy viên trung ương mà lại thiếu giường nằm. Lạ thiệt"... Tôi nhớ năm 1954, Trương Kiểm lận đận "gấp rút" theo lệnh mới, thống nhất miền tây với đất Quảng trong không khí hòa bình đất nước chia đôi. Tàu Ba Lan, tàu Liên Xô nhộn nhịp người đi. Ông trở lại "gánh" Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng. Trước mắt ông là cả vùng đồng bằng tự do. Không còn chính quyền ta, không còn lực lượng vũ trang ta, nhân dân lo gói ghém cất kỹ giấy tờ Việt Minh, những đồng bạc tín phiếu còn lại chưa kịp đổi. Trong khi đó, địch tính từng ngày tràn tới hằm hằm xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Và minh chứng là những vụ nổ ra sau đó như Hà Lam - chợ Được, Mỹ Lược, Cây Cốc, Vĩnh Trinh, Chiêu Đàn... sức người dẻo dai mấy cũng có lúc phải quỵ. Cuối năm 1954, lần đầu tiên trong đời, Trương Kiểm thấy trong người mệt mỏi phải gác công việc dở dang, báo hiệu căn bệnh hiểm nghèo tiềm tàng trong một cơ thể tưởng dồi dào sức sống bắt đầu lộ diện. Rồi ông sẽ phải lao đao vì nó cho đến suốt đời.
Chưa chịu thua! Bốn năm sau, người ta lại thấy Trương Công Thuận thoát chết trong ấp chiến lược inh ỏi tiếng mõ, tiếng hò la của vùng tây Duy Xuyên. Một số người không chạy kịp bị bắn ngã. Kể như lần này thần chết chụp hụt, nhưng ông hiểu được thế nào là "ấp chiến lược"... Vào năm 1959, thình lình tôi gặp ông trên đường Trần Phú, Hà Nội với chiếc xe đạp "Thống Nhất" cũ. Ông vừa thôi giữ chức Ủy viên Ban Thanh tra Chính phủ. "Tau trở vào!", giọng ông trầm trầm nhưng coi bộ khỏe khoắn lắm. Tôi im lặng vì không hình dung được cái "tau trở vào" của ông. Thấy tôi im lặng, ông bảo: "Tới chỗ tau nhận tấm Huân chương hạng nhất Chính phủ truy tặng ba mày!". Hôm sau, tôi mò tới đường Quán Thánh, lên tầng hai gặp ông đang bế con nhỏ. Cô Hòa nấu món gì thơm thơm trong bếp. Vừa bế con, ông vừa tới mở cánh tủ gần đó. Khi đưa huân chương, ông lại lôi luôn bộ comple xanh bảo: "Mày đem về mặc, tau đi!"...
Hồi miền Nam quyết một trận tập kích lịch sử, Trương Kiểm về làm Bí thư Đặc khu Quảng Đà, Chính ủy Mặt trận 44 gồm bắc Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Cuộc sống gấp gáp làm sao mà đời người thì ngắn. Anh Tư lại đi, đi gấp! Đường đường một vị Chính ủy mặt trận làm sao ngồi trên cao hô hào? Lúc nào ông lên đường cũng có lý như cuộc đời đã tính sẵn cho mình. Bão táp dữ dội trên từng thước đất. Mùa xuân Mậu Thân này ông đặt "đại bản doanh" ngay giữa vùng gió xoáy. Tiếp cận Đà Nẵng. Từng đoàn quân ra đi trước mặt ông chỉ với những khẩu súng cầm tay. Vượt sông, luồn phố, đành pháo đài, thọc sâu vào sào huyệt địch. Từng đoàn dân công trẻ già, trai gái, mang sức mạnh tự do đi trước mặt ông, đi thẳng vào thành phố áp đảo kẻ thù...
Đường Trương Chí Cương ngắn như đời ông vậy (1919 - 1975). Chỉ một quãng rẽ đường 2 Tháng 9, cách nhóm tượng đài khoảng 500 mét về phía nam. Bắt gặp một em học sinh tha thẩn giữa trưa đang quơ vợt chụp châu chấu bên lề cỏ, tôi liền hỏi: "Cháu có biết Trương Chí Cương là ai không?". Em lấy tay che nắng trên đôi mắt ngây thơ trong veo nhìn người lạ một lát rồi ấp úng: "Chắc là ông ấy đâu hồi xưa!". Tôi hiểu, bây giờ thì cái gì mới ra đi thì cũng xưa rồi. Một khu nhà khang trang lấp loáng cửa chớp khu phố mới. Lại dắt xe lần từng bước, mới hay nhà nhà không có số! Phải rồi, "anh Tư" chưa hề có nhà riêng cho mình. Anh chỉ có số lênh đênh lận đận nay đây mai đó khắp chiến trường miền Trung! Tôi chợt nhớ cái thuở người dân quê nhà lăn mình "bốn bám" (dân bám đất, cán bộ bám dân, vũ trang bám địch, cấp trên bám cấp dưới) giữa bom đạn, Tư Thuận rung cảm thốt lên: "Anh hùng thật!"... Sau năm 1974, Trương Chí Cương trở bệnh, nhưng vẫn đảm nhiệm Phó ban miền Nam trực thuộc Bộ Chính trị. Đây là gánh nặng cuối cùng trước khi ông lên giường bệnh...
Chợt lơ đãng nhìn đồng hồ, tôi vội vã phóng xe sang đường Đông Tây. Mới lai rai vài cốc bia tươi Đà Nẵng đã lơ mơ thấy sự "xưa rồi", trong khi biển chỉ đường Trương Chí Cương chữ xanh nền trắng mới rợi còn hằn trong trí tôi, trụ giữa đất trời Đà Nẵng...
Đoàn Xoa
Bình luận (0)