Mùa nắng hạn là lúc dễ bắt được lịch bằng cách: cào, thụt hang hoặc câu. Tuy nhiên, câu lịch là "chiêu" thú vị nhất. Bác Bảy Nhà Mới (bà con ở xóm quen gọi vậy) đã dạy tôi cách câu lịch. Chọn lưỡi câu cá lóc có ngạnh thật sắc, bẻ thẳng ra rồi uốn thành hình lưỡi ó. Tóm lưỡi câu phải thẳng với sợi dây gân dài độ 60 cm. Lịch háo ăn và món mồi dễ dụ là cá thồi lồi con. Theo những con mương cạn lúc nước ròng sẽ nhìn thấy hang lịch. Người mới "ra nghề" thường nhầm lẫn hang lịch với hang đẻn, hang cá bống kèo, bống cát. Biết nhận diện chính xác hang lịch, thậm chí biết lịch nhỏ hay lớn, câu mau ăn hay lâu ăn... không chỉ nhờ kinh nghiệm mà phần nhiều do khả năng thiên phú. "Nếu tưởng lịch lớn ở hang lớn, lịch nhỏ ở hang nhỏ thì sai lầm" - bác Bảy dạy tôi vậy.
Có thể cào lịch, thụt lịch bất cứ lúc nào nhưng câu lịch phải canh nước rong, nước kém, nước lớn, nước ròng, nắng sớm, nắng trưa. Lịch thường đói ăn vào ngày nước kém và nhạy mồi từ lúc mặt trời lên cho đến 8 - 9 giờ. Nhờ "bắt giò" yếu điểm này của con lịch mà tôi luôn có thời khóa biểu đi câu rất hiệu quả. Cái "mánh" câu lịch của tôi là "khiêu khích" con lịch mau lên ăn bằng cách búng tay ngay miệng hang vài tiếng chách chách trước khi thả mồi vào hang nhấp. Làm vậy mùi tanh của mồi nhanh chóng tỏa xuống hang và tiếng động khiến con lịch phải ngoi lên. Lịch lì đòn, không biết "ê mép" là gì, có khi cắn câu hụt dính 3 lần lại tiếp tục cắn lần thứ 4 để rồi... bị tóm.
Người dân quê tôi chế biến lịch thành nhiều món ăn. Lịch xào sả ớt ăn với cơm. Lịch nướng làm mồi nhậu. Lịch nấu canh chua đãi khách. Để có nồi canh chua thật ngon, chị Hai tôi thường chuẩn bị đủ các nguyên liệu: mớ đọt rau muống đồng, đôi ba cọng sả đập dập, một trái ớt sừng trâu chín đỏ xắt khoanh, mấy cọng rau húng quế và đương nhiên không thể thiếu mấy trái bần ổi chua. Lịch làm sạch, chiên sơ với tỏi thơm rồi mới thả vào nồi nước đã dầm mấy trái bần đang sôi ùng ục. Vị ngọt của thịt lịch, vị chua thanh của bần ổi hòa với mùi thơm của sả, rau nêm... tô canh nóng hổi được dọn lên bàn, mới nhìn đã “nư hai con mắt", mới ngửi đã "chảy mồ hôi lưỡi" ! Nhớ có lần cả nhà quây quần bên mâm cơm, ba nói với chị em tôi: "Tụi con phải học "ăn coi nồi, ngồi coi hướng". Ăn cá thì giẽ thịt từ dưới đuôi lên, nếu cá to, cá ngon thì nhường khúc đầu cho người lớn nhất trong bàn ăn. Ngược lại với con lươn, con lịch thì khúc đuôi là phần béo nhất, ngon nhất, không được gắp phần đuôi trước nghe chưa".
Một ngày nọ, tôi xách mấy con lịch lớn nhất đến nhà bác Bảy để biếu và từ giã bác lên thành thị học. Bác nắm chặt tay tôi, cười khà khà khoe hết hàm răng hô hốc, buông một câu tiếu lâm: "Bây đi học ở xa thế nào mấy con cua, con lịch cũng liên hoan ăn mừng". Mỗi lần về nhà, người hàng xóm đầu tiên tôi đến thăm vẫn là bác Bảy Nhà Mới. Bác thích nghe tôi hát những bài vọng cổ “tự chế” theo các chủ đề đại loại như tình nghĩa giữa nhà tôi với nhà bác, cáp đôi anh Năm cho chị Lệ... Mới đây, tôi lại về thăm nhà. Má ra bến sông đón. Vừa gặp chưa kịp mừng, má ngân ngấn nước mắt: bác Bảy mất gần một tháng nay rồi ! Tôi đứng trước bàn thờ bác Bảy. Phía trước nhà, con sông quê vẫn ngày ngày chở hai dòng nước lớn, ròng êm đềm quá đỗi. Gần hai mươi năm về đây sinh sống, đến lúc cuối đời nhà bác Bảy vẫn xác xơ. Vậy mà nhắc đến bác, bà con cứ gọi "ông Bảy Nhà Mới"...
Tôi vẫn đi đi về về. Mỗi lần vừa bước khỏi mũi đò đi từ biền lá vào nhà, mắt lại nhìn dọc theo mương, cố tìm cho bằng được cái hang lịch. Dường như lịch không còn nhiều như hồi trước nữa!
T.T
Bình luận (0)