Bộ tộc ít người ở cánh đồng Thèn Pả
Cánh đồng Thèn Pả, cánh đồng duy nhất trên cao nguyên đá Đồng Văn trong một buổi chiều vàng óng trông bình yên, mượt mà như bao cánh đồng khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thiên nhiên thật khéo sắp đặt! Bốn bề là núi đá lởm chởm. Trên đỉnh núi Rồng, kia là cột cờ Lũng Cú nhìn sang đã là Trung Quốc. Thèn Pả nằm giữa bốn bề núi đá như vậy và bản người Lô Lô sinh sống trên đó, bình yên trong khói lam chiều bốc lên từ những nếp nhà.
Bản người Lô Lô có 70 hộ dân sinh sống bằng nghề làm nương, cuốc rẫy. Nhà dựng sát nhà. Nét kiến trúc rõ nhận thấy nhất ở bản là những ngôi nhà "trình tường". Tường nhà bằng đất sét nện, không trát, cứ thế mặc nắng mưa mà "trình" ra bên ngoài. Hộ nào khá giả thì mái nhà lợp ngói hoặc "tôn xi măng", hộ nào thường thì vẫn lợp tranh rạ. Giống như bao dân tộc khác sinh sống ở cao nguyên đá, hàng rào quanh nhà người Lô Lô cũng được sắp lại bằng những hòn đá tai mèo, theo quan niệm từ bao đời nay thì hàng rào bằng đá sẽ ngăn được giá rét và thú dữ. Tuy chỉ là những hòn đá sắp lên nhau nhưng hàng rào đá vững như tường xây, kết cấu sắp đá theo kiểu bí quyết gia truyền nên không thể bị xô đẩy.
Đẩy cánh cổng gỗ mộc mạc còn nguyên dấu bùn đất, chúng tôi thăm nhà chị Vàng Thị Xuyến. Sân nhà chị Xuyến nhỏ hẹp, sát nhà là chuồng bò, đầu hồi là cối xay ngô. Nhà người Lô Lô có hai cửa, một cửa chính chỉ mở ra vào buổi sáng rồi đóng lại, sinh hoạt trong ngày đi qua cánh cửa còn lại. Trên mỗi cánh cửa là những miếng bùa màu đỏ để trừ tà. Nhà chị Xuyến có hai gác, gác dưới để ăn nghỉ, nấu nướng; gác trên phơi ngô, thóc. Một dấu hiệu cho thấy sự no đủ ở đây là hai chiếc chảo lớn đặt trong bếp. Một chiếc nấu cám heo, một chiếc dùng nấu thắng cố, mèng mèng - hai món ăn "đặc sản".
Chị Xuyến mặc nguyên bộ váy dân tộc sặc sỡ ra đón chúng tôi: "Chị say rượu quá, đang ngủ với chồng". Cậu bé con chị năm nay học lớp 2 thì cứ núp vào váy mẹ. Hỏi nó học có giỏi không, chị bảo: "Nó học giỏi lắm!". Nhà chị Xuyến có ba đứa con, hai gái, thằng này là út. Hai đứa chị đang đi chơi ngoài nương. Xuyến bảo nhà mình đủ ăn, một năm trồng được một nương thóc, hai nương ngô.
|
|
Dự một đám cưới... 4 triệu đồng
Hôm chúng tôi đến, chỉ huy trạm Lũng Cú bố trí cho một chiến sĩ đưa xuống Lô Lô gặp trưởng bản. Trưởng bản Vàng Dỉ Thánh 50 tuổi, mặc quần áo dân tộc màu đen đang thong thả đứng chăn bò ở đám ruộng trước nhà. Ông mới đi đám cưới về. Vàng Dỉ Thánh cười hiền khô: "Để tôi nhốt bò, đóng cửa rồi đưa cán bộ đi ăn cưới!". Men theo những lề ruộng bé xíu, trơn trượt dẫn qua những nương, nhà, chúng tôi tìm tới nơi tiếng kèn, phèng la đang gióng lên rầm rĩ, hệt như những bản nhạc đám ma ở dưới xuôi.
Nhà của Sình Dỉ Pai chật kín người dự đám cưới. Con trai của Pai là Sình Dỉ Đỏ năm nay 20 tuổi cưới Dìu Thị Píu 18 tuổi. Mặt mũi cô dâu chú rể trẻ măng như học sinh. Ở trong nhà, ngoài sân, kể cả quanh chuồng dê chuồng bò sát đó, bà con Lô Lô rực rỡ trong những váy áo dân tộc đang nồng nhiệt... uống và say để chúc mừng đôi tân lang trăm năm hạnh phúc. Dù có cả sĩ quan biên phòng và trưởng bản dẫn tới nhưng Pai không được hài lòng vì hai vị khách bất đắc dĩ là chúng tôi. Sau một hồi giải thích dài dòng bằng giọng Kinh không sõi, Pai nói đại ý là chúng tôi phải mừng tiền cho cô dâu chú rể - năm, mười nghìn cũng được, đó là phong tục của người Lô Lô. Khi chúng tôi mừng cưới bằng tờ bạc 50.000 đồng, Pai thoáng sửng sốt rồi vui trở lại. Tên của chúng tôi cũng được điền vào quyển vở học sinh nhàu nát theo danh sách những người mừng cưới. "Thu ngân" nhận tiền xong liền rót bốn chén rượu ngô cay xè mời hai chúng tôi uống cạn để chúc mừng cô dâu chú rể.
Theo phong tục người Lô Lô, đám cưới sẽ diễn ra ba ngày và chỉ đánh phèng la và thổi kèn đồng chứ không múa, chỉ đám ma mới múa. Sình Dỉ Pai kể, để tổ chức đám cưới này, ông phải bỏ ra khoảng 4 triệu đồng và chuẩn bị cả tháng trước. Quan trọng và tốn kém nhất là tiền để mua thực phẩm nấu ăn trong ba ngày liên tục. Thực đơn ăn cưới gồm thịt lợn luộc, đậu phụ luộc, canh xương, rau và cơm. Và không thể thiếu hàng chục can rượu ngô sắp đầy nhà. Vàng Dỉ Tay, một khách mời là họ hàng của Pai kể, ông mang đến mừng cô dâu chú rể một chai rượu, một địu cơm và hai chục nghìn. Số tiền mừng này nhà Pai sẽ ghi vào sổ, đến lượt con của Tay cưới thì Pai sẽ mừng lại đủ. Tay nói, hôm nay đã là ngày cưới thứ hai, ông chỉ sang chơi và uống rượu chứ không phải đem đồ mừng nữa. "Cứ ăn uống no say rồi ta về thôi!" - giọng Tay khề khà bên bếp lửa.
|
|
Nét văn hóa Lô Lô
Bạn đồng nghiệp ở Báo Hà Giang nói với chúng tôi rằng tại bản Lô Lô còn hai chiếc trống đồng cổ, một chiếc của nhà chị Vàng Thị Xuyến, một chiếc của nhà anh Vàng Dỉ Huân. Lúc đến nhà chị Xuyến, chúng tôi đã được tận tay, tận mắt sờ và nhìn vào chiếc trống cũ kỹ đã hoen gỉ một số chỗ. Chị Xuyến nói đó là chiếc trống do bố mẹ để lại, chị không biết nó có từ bao đời nay rồi. Lúc chúng tôi đến nhà anh Huân xem trống thì cả nhà đang ngồi tụm lại bên bếp lửa sưởi ấm, hút thuốc lào, xem Quốc hội họp được truyền hình trực tiếp qua ti vi. Trời rét, mặt ai cũng đỏ hồng, mắt đỏ hoe vì khói bếp.
Chiếc trống nhà anh Huân còn cũ nát hơn chiếc trống nhà chị Xuyến. Chị vợ tên Vàng Thị Mai vác nó ra giếng vừa đập bụi vừa giải thích: "Bộ trống có 14 chiếc nay chỉ còn lại chiếc này. Nó được dùng trong ngày lễ, Tết và đám ma". Theo phong tục người Lô Lô, lễ chính sẽ diễn ra vào ngày rằm tháng bảy, khi đó chiếc trống sẽ được lau chùi sạch sẽ rồi mang ra dùng. Nhà anh Huân thuộc diện gia thế ở bản nên còn có trống. Bố anh nguyên là Phó chủ tịch huyện Đồng Văn. Anh Huân hiện làm y tế xã, nhà có ti vi, đầu đĩa, sa-lông, xe máy. Vợ chồng anh có một cháu đang học lớp 5. Chị vợ nói: "Đẻ ít theo kế hoạch của Nhà nước thôi, đẻ nhiều lấy gì nuôi!".
Một nét văn hóa nữa được biết đến nhiều ở người Lô Lô là những bộ váy áo. Những bộ váy đã được du khách VN và cả nước ngoài tìm lên tận bản để đặt mua, một bộ giá từ 3 triệu đồng. Nhưng con gái, phụ nữ Lô Lô chưa bị "thương mại hóa" như ở nhiều vùng miền núi nổi tiếng du lịch khác. Phụ nữ Lô Lô còn hồn nhiên và trong trẻo lắm. Gặp khách lạ họ còn cúi đầu, che mặt, thậm chí còn chạy vì... ngượng. Họ không dệt quần áo để bán. Ai thích thì tự động hỏi mua, tự đặt cho họ dệt, may. Những bộ quần áo đã được cả các nhà tạo mẫu tìm lên để nghiên cứu, chuyển thể. Chúng tôi hỏi chị Xuyến là có bán áo không thì chị cười, lắc đầu. Hỏi có bán vòng bạc không, chị cũng lắc đầu. Hỏi chị rằng ai dạy chị may áo, chị bảo, người già dạy cho người trẻ. Con gái, phụ nữ Lô Lô cứ thế tự may theo bí quyết thôi. Nếu may cấp tốc thì 3 tháng xong một bộ, nếu làm từ từ thì 6 tháng mới xong.
***
Chúng tôi rời bản Lô Lô khi trời đã tối mịt. Sương trắng lạnh buốt đã giăng lên những nóc nhà đỏ ánh đèn nhưng những lời hẹn hò cứ níu bước. Ở đám cưới vợ chồng Sình Dỉ Đỏ, bà con mặc váy áo đẹp cứ xúm lại nhờ chụp ảnh rồi viết địa chỉ, hẹn cán bộ khi nào có ảnh phải gửi lên. Tiệc chia tay được người nhà chú rể cấp tốc dọn ra. Những ly rượu ngô cay xé lòng nhưng ấm bụng. Nghĩa tình người Lô Lô cứ thao thức trong tâm trí chúng tôi, làm cho mỗi bước chân khi trở về thấy nằng nặng...
Thiếu Gia


Bình luận (0)